Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp&Hình thức tổ chức dạy cộng trừ trong phạm vi 10
Để đạt được mục tiêu dạy học, yêu cầu giáo viên phải đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp, áp dụng linh hoạt các phương pháp - hỡnh thức dạy học. Mà phương pháp- hỡnh thức dạy học toán là tổ chức các hoạt động học toán cho học sinh. Giáo viên không áp đặt, thông báo kiến thức có sẵn mà hướng dẫn học sinh tìm tòi, phát hiện, chủ động tự chiếm lĩnh chi thức thông qua các tình huống, ví dụ cụ thể.
Học sinh khi vào lớp 1, những hiểu biết của các em rất gần với những kiến thức ở môn toán lớp 1, nhiều học sinh thậm chí đã biết đọc biết viết các số, tính toán trước khi vào lớp 1. Nhưng các em chưa nắm được kí hiệu để ghi lại. Môn Toán giúp các em nắm được kiến thức về ngôn ngữ, để tính toán trong cuộc sống, nhận ra cái hay, lí thú khi học toán.
Như vậy, môn toán lớp 1 là nền móng của bậc tiểu học. Dạy toán lớp 1 có nhiệm vụ rất lớn lao giúp các em có tri thức, cơ sở ban đầu về toán học, hình thành kĩ năng thực hành tính toán, đo lường, giải toán có lời văn và có nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng gây hứng thú học tập toán. Phát triển hợp lí khả năng suy luận, biết diễn đạt đúng bằng lời bằng chữ viết góp phần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt và sáng tạo. Học sinh phải hoạt động, tìm tòi phát hiện hình thành kiến thức cho mình.
Dạy học toán ở tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng theo phương châm"nghe thì quên, nhìn thì nhớ và làm thì hiểu". Giáo viên không nói nhiều, làm thay, học sinh không thụ động, chỉ biết nghe và ghi nhớ. Vì vậy tổ chức hoạt động học toán cho học sinh đó là định hướng đổi mới phương pháp dạy học sâu sắc nhất ở tiểu học.
2. Cơ sở thực tiễn:
Thực tế cho thấy trong một lớp học có những học sinh tiếp thu nhanh và có những học sinh tiếp thu chậm. Trong giảng dạy cho thấy một số em còn mải chơi chưa tích cực học tập nên việc nắm bắt kiến thức mới còn lơ mơ. Một số em trí nhớ không tốt nên vừa học đã quên ngay. Giáo viên chưa thực sự chú trọng đầu tư thời gian, nghiên cứu kĩ bài dạy.
Yêu cầu đặt ra là giáo viên phải làm cho tất cả học sinh đều nắm được yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng để đạt trình độ chuẩn, đồng thời chú ý đến đối tượng học sinh để các em không cảm thấy nhàm chán. Một bài học có những yêu cầu mức độ khác nhau, giáo viên phải gia công về kiến thức và kỹ năng để phù hợp với mọi đối tượng học sinh. Với những lý do trên tổ 1 đã mạnh dạn đưa ra chuyên đề: '' Phương pháp và hỡnh thức tổ chức dạy cộng trừ trong phạm vi 10”
Học sinh khi vào lớp 1, những hiểu biết của các em rất gần với những kiến thức ở môn toán lớp 1, nhiều học sinh thậm chí đã biết đọc biết viết các số, tính toán trước khi vào lớp 1. Nhưng các em chưa nắm được kí hiệu để ghi lại. Môn Toán giúp các em nắm được kiến thức về ngôn ngữ, để tính toán trong cuộc sống, nhận ra cái hay, lí thú khi học toán.
Như vậy, môn toán lớp 1 là nền móng của bậc tiểu học. Dạy toán lớp 1 có nhiệm vụ rất lớn lao giúp các em có tri thức, cơ sở ban đầu về toán học, hình thành kĩ năng thực hành tính toán, đo lường, giải toán có lời văn và có nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng gây hứng thú học tập toán. Phát triển hợp lí khả năng suy luận, biết diễn đạt đúng bằng lời bằng chữ viết góp phần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt và sáng tạo. Học sinh phải hoạt động, tìm tòi phát hiện hình thành kiến thức cho mình.
Dạy học toán ở tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng theo phương châm"nghe thì quên, nhìn thì nhớ và làm thì hiểu". Giáo viên không nói nhiều, làm thay, học sinh không thụ động, chỉ biết nghe và ghi nhớ. Vì vậy tổ chức hoạt động học toán cho học sinh đó là định hướng đổi mới phương pháp dạy học sâu sắc nhất ở tiểu học.
2. Cơ sở thực tiễn:
Thực tế cho thấy trong một lớp học có những học sinh tiếp thu nhanh và có những học sinh tiếp thu chậm. Trong giảng dạy cho thấy một số em còn mải chơi chưa tích cực học tập nên việc nắm bắt kiến thức mới còn lơ mơ. Một số em trí nhớ không tốt nên vừa học đã quên ngay. Giáo viên chưa thực sự chú trọng đầu tư thời gian, nghiên cứu kĩ bài dạy.
Yêu cầu đặt ra là giáo viên phải làm cho tất cả học sinh đều nắm được yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng để đạt trình độ chuẩn, đồng thời chú ý đến đối tượng học sinh để các em không cảm thấy nhàm chán. Một bài học có những yêu cầu mức độ khác nhau, giáo viên phải gia công về kiến thức và kỹ năng để phù hợp với mọi đối tượng học sinh. Với những lý do trên tổ 1 đã mạnh dạn đưa ra chuyên đề: '' Phương pháp và hỡnh thức tổ chức dạy cộng trừ trong phạm vi 10”
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp&Hình thức tổ chức dạy cộng trừ trong phạm vi 10", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp&Hình thức tổ chức dạy cộng trừ trong phạm vi 10

em có tri thức, cơ sở ban đầu về toán học, hình thành kĩ năng thực hành tính toán, đo lường, giải toán có lời văn và có nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng gây hứng thú học tập toán. Phát triển hợp lí khả năng suy luận, biết diễn đạt đúng bằng lời bằng chữ viết góp phần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt và sáng tạo. Học sinh phải hoạt động, tìm tòi phát hiện hình thành kiến thức cho mình. Dạy học toán ở tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng theo phương châm"nghe thì quên, nhìn thì nhớ và làm thì hiểu". Giáo viên không nói nhiều, làm thay, học sinh không thụ động, chỉ biết nghe và ghi nhớ. Vì vậy tổ chức hoạt động học toán cho học sinh đó là định hướng đổi mới phương pháp dạy học sâu sắc nhất ở tiểu học. 2. Cơ sở thực tiễn: Thực tế cho thấy trong một lớp học có những học sinh tiếp thu nhanh và có những học sinh tiếp thu chậm. Trong giảng dạy cho thấy một s... luận. - Học sinh ghi nhớ phần bài học và áp dụng vào thực hành, luyện tập. Lưu ý: Giáo viên cần hiểu rõ hơn bản chất của phép cộng, phép trừ. * Phép cộng: Là phép hợp của hai tập hợp hữu hạn không giao nhau. - Khi dạy các phép cộng trong phạm vi 10 cần tiến hành theo 3 bước: + Quan sát hình vẽ (mô hình, nêu vấn đề toán). + Trả lời cho đề toán đã nêu (giải quyết vấn đề). + Hình thành các phép tính cộng. * Phép trừ: Bản chất của phép trừ là phép tính ngược của phép cộng. (Theo quan niệm toán học là: Đi tìm phần bù của một tập hợp) - Khi dạy các phép trừ trong phạm vi 10 cũng cần tiến hành theo 3 bước: + Quan sát hình vẽ (mô hình, nêu vấn đề toán). + Trả lời cho đề toán đã nêu (giải quyết vấn đề). + Hình thành các phép tính trừ. C. Phương pháp Dạy các phép tính cộng trừ trong phạm vi 10 cần áp dụng các phương pháp dạy học sau: 1- Phương pháp quan sát. 2- Phương pháp đàm thoại (hỏi - đáp). 3- Phương pháp luyện tập. 4- Phương pháp kiểm tra. Các phương pháp dạy học này được giáo viên áp dụng một cách linh hoạt và kết hợp cùng với việc sử dụng các thiết bị dạy học thể hiện trong tiến trình một tiết dạy. D. Hình thức tổ chức dạy học cho học sinh thành lập các phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10 I. Dạy các phép cộng, trừ trong phạm vi 5 Khi dạy hình thành các số hiển nhiên học sinh nhận biết được các số từ 1 đến 5. Do vậy, các số từ 1 đến 5 là các số trực giác. Vậy lên khi dạy các phép cộng, trừ trong phạm vi 5 cũng là trực giác thông qua số đếm. 1) Dạy phép cộng trong phạm vi 3 a) Giới thiệu phép cộng 1 + 1 = 2 - Đây là phép cộng đầu tiên giáo viên giới thiệu với học sinh biết và hình thành phép cộng. Do đó giáo viên cần chỉ rõ bản chất của khái niệm. - Giáo viên giới thiệu hình vẽ gồm hai con thỏ. + Tổ chức học sinh quan sát, nêu đề toán ứng với hình vẽ. + Yêu cầu học sinh trả lời cho đề toán nêu. + Giới thiệu cho học sinh tên gọi và ký hiệu của phép tính. "Một thêm một bằng hai" ta viết như sau: 1 + 1 = 2 + Giáo viên giới thiệ... III. dạy các phép cộng, trừ trong phạm vi 6, 7, 8, 9 , 10. 1) Dạy phép cộng trong phạm vi 6 Hướng dẫn học sinh thành lập các phép cộng trong phạm vi 6. a) Hướng dẫn học sinh lập phép tính 5 + 1 = 6, 1 + 5 =6 - Giới thiệu hình vẽ (mô hình) gồm 6 hình tam giác + Yêu cầu học sinh quan sát hình vẽ, nhận xét: Bên phải (bên trái) hình vẽ có mấy hình tam giác ? + Yêu cầu học sinh nêu đề toán ứng với hình vẽ. (Có năm hình tam giác, thêm một hình tam giác là mấy hình tam giác ?) + Yêu cầu học sinh chọn các số và dấu lập phép tính: 5 + 1 = 6 - Giáo viên yêu cầu nêu đề toán khác ứng với hình vẽ 6 hình tam giác. + Yêu cầu học sinh chọn các số và dấu làm phép tính: 1+ 5 = 6 b) Hướng dẫn học sinh lập các phép tính: 4 + 2 = 6; 2 + 4 = 6 - Giáo viên giới thiệu hình vẽ ( mô hình) gồm 6 hình tròn. - Quan sát hình vẽ, lập các phép tính ứng với hình vẽ: 4 + 2 = 6 2 + 4 = 6 + Vì sao em lập được phép tính đó ? c) Hướng dẫn học sinh lập các phép tính: 3 + 3 = 6 - Giáo viên giới thiệu hình vẽ (mô hình) gồm 6 hình vuông. - Giáo viên yêu cầu học sinh nêu các phép tính ứng với mỗi hình vẽ: 3 + 3 = 6. + Vì sao em nêu được các phép tính 3 + 3 =6. 2) Dạy phép cộng trong phạm vi 7, 8, 9, 10 tương tự IV. Dạy các phép trừ trong phạm vi 6, 7, 8, 9, 10 - Hình thức tổ chức học sinh lập các phép trừ trong phạm vi 6, 7, 8, 9, 10 tương tự như dạy các phép cộng trong phạm vi 6, 7, 8, 9, 10. - Chỉ khác là: Phép trừ là phép tính ngược của phép cộng. Hình vẽ (mô hình) để học sinh quan sát, nêu đề toán cần thể hiện các phần tử của một tập hợp: Vì bản chất của phép trừ là đi tìm phần bù của một tập hợp. - Trong tiết học: Học sinh chủ động nắm kiến thức thông qua các hoạt động học tập của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Do đó việc thay đổi các hình thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh để lập các phép tính cộng trừ trong phạm vi 10 bằng nhiều hình thức khác nhau là rất cần thiết và nên thực hiện để tiết học nhẹ nhàng hơn mà học sinh lại tiếp thu được kiến t
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_phuong_phaphinh_thuc_to_chuc_day_cong.doc