SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi học tốt hoạt động làm quen với văn học - Năm học 2022-2023 - Nguyễn Thị Minh Trang

doc 20 trang Hạ Thu 02/04/2026 40
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi học tốt hoạt động làm quen với văn học - Năm học 2022-2023 - Nguyễn Thị Minh Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi học tốt hoạt động làm quen với văn học - Năm học 2022-2023 - Nguyễn Thị Minh Trang

SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi học tốt hoạt động làm quen với văn học - Năm học 2022-2023 - Nguyễn Thị Minh Trang
 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ
 TRƯỜNG MẦM NON CAM THƯỢNG
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
 TÊN ĐỀ TÀI:
Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi học tốt hoạt động làm quen với văn học 
 Lĩnh vực: Phát triển ngôn ngữ
 Cấp học: Mầm non
 Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang
 Chức vụ: Giáo viên
 Năm học: 2022 - 2023
 1/20 MỤC LỤC
 PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
 I. Lý do chọn đề tài 3
 II. Mục đích nghiên cứu 4
 III. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 4
 PHẦN II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 I. Cơ sở khoa học
 1. Cơ sở lý luận 4
 2. Cơ sở thực tiễn 5
 3. Khảo sát thực trạng 6
 II. Phương pháp thực hiện 6
 1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch 7
 2. Biện pháp 2: Nghiên cứu kỹ tác phẩm, xác định kiến thức, nội 8
 dung, hệ thống câu hỏi phù hợp.
3. Biện pháp 3: Làm đồ dùng đồ chơi tự tạo phục vụ hoạt động cho 12
 trẻ làm quen tác phẩm văn học
 4. Biện pháp 4: Tổ chức các hình thức tổ chức dạy trẻ LQTPVH 14
 5. Biện pháp 5: Phối kết hợp với phụ huynh 15
 III. Kết quả thực hiện (có so sánh đối chứng) 16
 PHẦN III – KẾT THÚC VẤN ĐỀ
 I. Kết luận 16
 II. Bài học kinh nghiệm 17
 III. Khuyến nghị và đề xuất 17
 2/20 PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
 Giáo dục mầm non là hệ thống mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục 
quốc dân. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện, hình 
thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ 
nghĩa, tạo điều kiện cho trẻ có nhiều cơ hội lĩnh hội kiến thức để áp dụng những 
kiến thức đã tiếp thu vào thực tiễn cuộc sống của trẻ. Ngày nay để bước kịp với 
xu thế phát triển chung của thời đại và để đáp ứng được nhu cầu chuyển mình 
của đất nước thì ngành học mầm non càng phải phấn đấu nâng cao chất lượng 
giáo dục trẻ cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Đó chính là 
tạo ra những lớp người vừa có trí thức, có lòng yêu quê hương đất nước, vừa 
biết yêu cái đẹp, giàu ước mơ và sáng tạo, những phẩm chất này cần hình thành 
cho trẻ từ những năm đầu đời, hình thành cho trẻ qua sự cảm nhận những âm 
điệu, vần thơ, câu chuyện. Văn học nghệ thuật mà đặc biệt là thơ, truyện chính 
là phương tiện quan trọng góp phần hình thành nhân cách cho trẻ một cách toàn 
diện về cả Đức - Trí - Thể - Mỹ.
 Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở mẫu giáo, đặc biệt là tuổi mẫu giáo 
nhỡ, giúp trẻ hiểu nội dung câu chuyện, giúp trẻ biết rung động, yêu thích, hào 
hứng với các hoạt động văn học nghệ thuật, thích đọc thơ, kể chuyện.
 Tuy nhiên thực tế hiện nay việc tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với văn 
học còn gặp nhiều khó khăn: giáo viên chưa xây dựng được kế hoạch lựa chọn 
tác phẩm phù hợp với lứa tuổi trẻ, chưa nghiên cứu kỹ tác phẩm trước khi dạy, 
hình thức tổ chức dạy trẻ LQTPVH còn nghèo nàn chưa hấp dẫn, đồ dùng phục 
vụ cho môn văn học còn ít.
 Xuất phát từ tầm quan trọng của việc cho trẻ làm quen với văn học nên tôi đã 
mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi học tốt hoạt 
động làm quen với văn học.”
 Khi đưa vào áp dụng đã có kết quả tốt, bản thân tôi mong muốn trước hết là 
lắng nghe, tham khảo ý kiến của đồng nghiệp nhằm trau rồi khả năng chuyên 
môn của mình. Sau đó muốn giúp các bạn đồng nghiệp của trường linh hoạt và 
sáng tạo hơn khi cho trẻ làm quen với văn học.
 Thông qua bài viết này tôi muốn: Thúc đẩy hơn nữa chất lượng giáo dục trẻ 
nói chung và chất lượng tổ chức hoạt động LQTPVH nói riêng. Mặt khác còn 
giúp giáo viên có thêm nhiều biện pháp giúp nâng cao chất lượng hoạt động 
LQTPVH loại tiết đa số trẻ chưa biết cho trẻ 3-4 tuổi.
 3/20 II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
 Tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng việc tạo hứng thú cho trẻ học tốt môn 
làm quen văn học, Củng cố cho trẻ tên các câu chuyện ,bài thơ, ca dao, đồng 
dao, các nhân vật trong truyện, các hình ảnh trong thơ, các hình tượng trong các 
bài đồng dao ca dao tục ngữ.
 Nhằm giúp những đứa trẻ hiểu nội dung và nhớ được trình tự câu 
chuyện, câu thơ các câu đồng dao ca dao tục ngữ một cách dễ hiểu nhất đối với 
trẻ con.
 Thông qua nội dung truyện, bài thơ và các hình tượng trong các bài 
đồng dao ca dao, tục ngữ trẻ biết yêu thương chia sẻ và quan tâm đến mọi người 
xung quanh, từ đó tôi chọn lọc các hình thức, hình ảnh trực quan, các hình thức 
tổ chức để tạo hứng thú phù hợp với trẻ 3-4 tuổi cảm nhận được các tác phẩm 
văn học một các thuận lợi và dễ dàng nhất.
 III. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu.
 - Trẻ 3-4 tuổi lớp 3TC2
2. Phạm vi nghiên cứu
 - Đề tài được áp dụng trong pham vi lớp 3 tuổi C2 trường mầm non Cam 
Thượng tôi đang công tác
 - Thời gian trong năm học 2022-2023, từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 04 
năm 2023 
 PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở lí luận:
 Văn học là môn rất quan trọng đối với trẻ mầm non, là phương tiện phát 
triển ngôn ngữ cho trẻ có đủ vốn từ để nói năng lưu loát, biết cách diễn đạt, sử 
dụng từ đúng lúc, đúng chỗ, không những thế mà việc dạy trẻ làm quen với 
những từ ngữ nghệ thuật như từ tượng hình, từ tượng thanh giúp trẻ phát triển trí 
tưởng tượng, óc quan sát, khả năng tư duy độc lập trong suy nghĩ.
Thông qua nội dung các tác phẩm giáo dục trẻ lòng nhân ái, biết yêu quý người 
hiền lành, biết ơn và kính yêu ông bà, bố mẹ, anh chị em, bạn bè, biết nhường 
nhịn em nhỏ.
 Cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua việc đọc và kể diễn cảm của cô giáo. 
Hoạt động này nhằm dẫn dắt, hướng trẻ cảm nhận những giá trị nội dung nghệ 
thuật phong phú trong tác phẩm, khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú đối với 
văn học, có ấn tượng về những hình tượng nghệ thuật, cái hay, cái đẹp của tác 
 4/20 phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó qua các hoạt động mang tính văn học, nghệ 
thuật.
Trong mỗi tác phẩm văn học, thế giới mới của cuộc sống thực tại bao gồm thiên 
nhiên, xã hội, con người được diễn tả, biểu đạt, truyền đạt trong những hình thức 
đa dạng, độc đáo. Văn học nói về thế giới loài vật, cỏ cây, hoa lá, mọi hiện 
tượng thiên nhiên, vũ trụ mà trẻ nhìn thấy được, cũng nói về những gì gần gũi 
trong môi trường sống của trẻ như làng quê, cánh đồng, dòng sông, phiên chợ, 
lớp học, khu phố. Qua tác phẩm văn học trẻ bắt đầu nhận ra trong xã hội những 
mối quan hệ, những tình cảm gia đình, tình bạn, văn học có thể đề cập đến 
những lực lượng siêu nhiên như thần linh, ông bụt, cô tiên, phù thủy, và cả 
những phép màu còn tồn đọng trong tiềm thức dân tộc. Đây cũng là đối tượng 
miêu tả của văn học làm nên sự phong phú, hấp dẫn của đời sống tinh thần.
Nhờ được nghe, tiếp xúc với các thể loại văn học, có những hiểu biết sơ đẳng về 
văn học trẻ sẽ có khả năng mô tả cuộc sống xung quanh phong phú, hấp dẫn 
bằng những dạng thức khác nhau. Bước đầu trẻ sẽ nhận biết được sự khác nhau 
về nội dung và hình thức giữa các thể loại thơ, truyện.
 II. Cơ sở thực tiễn
 1. Thuận lợi
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, giúp đỡ về cơ sở vật chất, thời gian 
để giáo viên nhà trường tham gia học tập và bồi dưỡng chuyên môn
- Tổ chức các buổi bồi dưỡng chuyên môn tại trường: kiến tập chuyên đề 
LQTPVH, các buổi sinh hoạt chuyên môn.
- Lớp học được trang bị cơ sở vật chất như: máy vi tính, đàn và tranh truyện.
- Giáo viên có tinh thần nhiệt huyết, luôn tìm tòi học hỏi và có tinh thần trách 
nhiệm.
- Lớp được chia theo đúng độ tuổi quy định
- Luôn được sự ủng hộ của phụ huynh.
 2. Khó khăn
* Đối với giáo viên:
 - Đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động văn học còn ít, chưa phong phú 
chưa đa dạng. Chưa linh hoạt trong khi tổ chức hoạt động văn học , chưa tìm tòi, 
khai thác từ nguyên vật liệu thiên nhiên.
 - Giáo viên trong việc ứng dụng CNTT còn hạn chế vào bài dạy 
* Đối với trẻ
 - Trẻ tuy ở cùng độ tuổi nhưng kiến thức của trẻ không đồng đều, khả 
năng nói phát ngôn của một số trẻ còn hạn chế, một số trẻ còn nhút nhát chưa 
hứng thú với hoạt động văn học.
 5/20 - Trẻ còn chưa hứng thú, chưa mạnh dạn phát biểu và chưa nói lên được 
cảm nhận và hiểu biết của mình khi nghe kể chuyện, đọc thơ.
 - Nhiều trẻ còn chưa chú ý trong khi cô dạy nên còn chưa thuộc bài 
3. Khảo sát
 *Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học 2022 -2023 tại lớp 3TC2 như 
sau:
STT Nội dung khảo sát Đạt Tỷ Chưa Tỷ 
 lệ đạt lệ
 % %
 1 Số trẻ hứng thú tham gia hoạt động 8 33 16 67
 2 Số trẻ chưa hứng thú tham gia hoạt động 9 28 15 72
 3 Số trẻ mạnh dạn tự tin khi tham gia hoạt 8 33 16 67
 động
 4 Số trẻ nhút nhát thu động khi tham gia vào hoạt 6 22 18 78
 động
II: CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
 1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch
 Dựa vào thực tế của nhà trường, ngay từ đầu năm học tôi đã tự xây dựng kế 
hoạch lựa chọn những tác phẩm đưa vào giảng dạy dựa trên các nguyên tắc như: 
tác phẩm phải phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của trẻ 3-4 tuổi, phù hợp với 
chủ đề, sự kiện theo từng tháng và một điều quan trọng nữa đó là tác phẩm văn 
học được lựa chọn phải mang tính giáo dục, nội dung của các tác phẩm hướng 
trẻ tới những vẻ đẹp đích thực của đời sống xã hội.
 Để hoạt động LQTPVH đạt kết quả cao tôi đã tiến hành xây dựng kế hoạch 
giảng dạy dự kiến bài dạy, luân phiên theo thời khóa biểu, phiên chế cho chủ đề 
- sự kiện các tháng trong năm học như sau:
Tháng Chủ đề - Sự kiện Đề tài
Tháng 9 Trường mầm non của bé Truyện: Ai đáng khen nhiều hơn
 6/20 Lễ hội trung thu Thơ: Bé yêu trăng 
 Lớp 3TC2 thân yêu Thơ: Chơi bập bênh
Tháng 10 Tôi là ai? Thơ: Cái lưỡi
 Bé cần gì để lớn lên và khỏe Thơ: Bé và mèo 
 mạnh
 Ngày hội của bà của mẹ 20/10 Thơ: Mẹ của em.
 Khám phá các giác quan Truyện: Bé Minh Quân dũng 
 cảm
Tháng 11 Các thành viên trong GĐ Truyện: Chiếc ấm sành nở hoa.
 Ngôi nhà thân yêu Thơ: Thăm nhà bà
 Mừng ngày nhà giáo Việt nam Thơ: Nghe lời cô giáo 
 Phân loại đồ dùng nhà bếp Thơ: Kể cho bé nghe
 Nghề giáo viên Thơ: Cô và mẹ
Tháng 12 Nghề thợ may Thơ: Các cô thợ
 Ngày 22/12. Chú bộ đội Hải Thơ: Chú giải phóng quân
 quân
 Nghề nông Thơ: Đi bừa
 Nghề xây dựng Truyện: Hươu con biết nhận lỗi
Tháng 01 Một số loại hoa Truyện: Sự tích các loại hoa.
 Một số loại rau Thơ: Trồng đậu trồng cà
 Tết nguyên Đán Thơ: Tết đang vào nhà.
 Món ăn ngày tểt Thơ: Hoa kết trái
Tháng 02 Mùa xuân của bé Thơ: Mùa xuân.
 Cây xanh của bé Thơ: Cây chuối
 Hoa mùa xuân Truyện: Củ cải trắng
 Một số loại quả Truyện: Chú Đỗ con
Tháng 03 Ngày quốc tế phụ nữ 08/03 Thơ: Quà 08/03
 Một số vật nuôi trong GĐ Truyện: Chú vịt xám
 Một số vật nuôi dưới nước Truyện: Dê con nhanh trí
 Một số vật nuôi trong rừng Truyện: Bác Gấu đen và hai chú 
 Thỏ 
Tháng 04 Một số PTGT đường thủy Truyện: Qua đường
 Một số PTGT hàng không Thơ: Xe cần cẩu 
 Một số PTGT đường bộ Thơ: Giúp bà
 Một số PTGT đường sắt Thơ: Đoàn tàu lăn bánh
Tháng 05 Mùa hè của bé Thơ: Mưa
 7/20 Cảnh đẹp của thủ đô Hà Nội Thơ: Ông mặt trời.
 Mừng ngày sinh nhật Bác Thơ: Bác Hồ của em
2. Biện pháp 2: Nghiên cứu kỹ tác phẩm, xác định kiến thức, nội dung, hệ 
thống câu hỏi phù hợp.
 Để tiết học đạt kết quả cao thì trước hết người giáo viên phải xác định rõ mục 
đích yêu cầu của tác phẩm và phải thuộc tác phẩm, xác định được nội dung của 
bài dạy, từ đó đưa ra hệ thống câu hỏi có tính logic, để đàm thoại với trẻ một 
cách sôi nổi theo phương châm "Lấy trẻ làm trung tâm" để phát huy trí tưởng 
tượng, những cảm xúc của trẻ, tính liên hệ thực tiễn, sáng tạo phù hợp với từng 
nội dung của bài mà trẻ không bị áp đặt một cách gò bó.
 Đối với một tiết dạy LQVTPVH mà cụ thể là loại tiết đa số trẻ chưa biết, việc 
xây dựng hệ thống câu hỏi đóng vai trò quan trọng trong thành công của tiết học.
 Để giới thiệu tác phẩm, cô cần đặt câu hỏi hướng trẻ tập trung chú ý vào 
chuyện kể, các tình tiết trong truyện, tính cách nhân vật.
Ví dụ kể “ Bác Gấu đen và hai chú Thỏ”, khi giới thiệu bài, cô đặt câu hỏi:
- Trong câu chuyện có những ai?
- Các con thấy Thỏ trắng và bác Gấu như thế nào? Có tốt bụng không?
Vậy các con phải biết yêu quý giúp đỡ mọi người khi cần thiết để trở thành 
người tốt nhé Các con hãy lắng nghe câu chuyện “Bác Gấu đen và hai chú Thỏ”.
Để trẻ hiểu tác phẩm, không chỉ đơn giản cô đặt câu hỏi trẻ trả lời mà khi đàm 
thoại cô giáo cần đặt câu hỏi kết hợp với giảng giải( có nghĩa là khi kể chuyện, 
yêu cầu trẻ hiểu nội dung chính của chuyện kể). Sau đó cô nêu câu hỏi, trẻ có 
thể trả lời được hoặc chưa trả lời tốt; cô đi vào củng cố bằng cách trích dẫn để 
giúp trẻ hiểu nội dung chính (tên tác phẩm, chủ đề tư tưởng).
 Để đưa ra các câu hỏi ở dạng này không phải là điều quá khó, quan trọng là câu 
hỏi phải bám theo chiều dài câu chuyện, không vụn vặt, dài dòng hay nói một 
cách đơn giản " Hỏi phải đúng chỗ cần hỏi".
Với một câu chuyện, ví dụ truyện: "Sự tích các loại hoa" có thể nói diễn biến 
của nó khá dài. Vì vậy nếu cứ lần lượt đưa ra câu hỏi bám theo tiến trình của 
truyện chắc chắn sẽ rất tốn giấy mực. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng: không 
phải chi tiết nào trong câu chuyện cũng nên đưa ra để hỏi, người giáo viên phải 
biết chia câu chuyện ra thành các phần, các đoạn cho hợp lý. Sau đó, ở mỗi 
phần, mỗi đoạn lại xác định xem đâu là chi tiết chính quan trọng, vừa là linh hồn 
 8/20 của câu chuyện lại vừa có tác dụng kết nối, móc xích với đoạn tiếp theo khiến 
cho câu chuyện được xâu chuỗi một cách logic, ăn nhập với nhau. Chính cái làm 
nên "linh hồn" ấy mới khiến chúng ta đặt câu hỏi và câu hỏi đưa ra tất yếu mới 
"Sắc" và giúp trẻ nhớ được hết các sự kiện chính, tiến tới tái lập nội dung câu 
chuyện.
Tôi có thể đưa ra đây một số ví dụ cho dạng câu hỏi này khi cho trẻ làm quen tác 
phẩm văn học
Ví dụ 1: Truyện: “Củ cải trắng”, trong kế hoạch hoạt động tháng 2,
- Kiến thức cần cung cấp cho trẻ đó là:
- Trẻ biết tên câu chuyện : Củ cải trắng, biết tên các nhân vật trong truyện : Thỏ 
con, dê con và hươu con
 - Biết nội dung câu chuyện: Thỏ con tìm đươc 2 củ cải trắng, thỏ nhớ đến dê 
con không có gì ăn nên đã đem 1 củ cải trắng cho dê, dê lại mang đến cho hươu 
con, hươu con lại mang đến cho thỏ con.
- Hệ thống câu hỏi như sau:
+ Thỏ con tìm được mấy củ cải trắng?
+ Thỏ con đem củ cải đến cho ai?Vì sao?
+ Dê con và hươu con đã làm gì khi thấy củ cải trắng trên bàn?
+ Tại sao củ cải trắng lại về với thỏ con?
+ Các con thấy thỏ con như thế nào?
+ Qua câu chuyện “Củ cải trắng” các con học được điều gì?
Ví dụ 2: Truyện “Bé Minh Quân dũng cảm” căn cứ vào kiến thức và nội dung 
câu chuyện tôi đưa ra hệ thống câu hỏi theo nội dung chuyện như sau
- Kiến thức:
+ Trẻ biết tên truyện: “Bé Minh Quân dũng cảm”, biết tên các nhân vật trong 
truyện: Có mèo vàng, bố, Minh Quân
+ Trẻ hiểu nội dung câu chuyện: Nói về bé Minh Quân và mèo vàng ở nhà chơi 
do mải nghịch nên Minh Quân đã đánh vỡ lọ hoa và đổ lỗi cho mèo vàng. Minh 
Quân đã biết nhận lỗi khi mắc lỗi và rất yêu quý các con vật nuôi gia đình.
- Sau khi đã xác định được kiến thức và nội dung cần cung cấp cho trẻ tôi xây 
dựng hệ thống câu hỏi như sau:
+ Cô vừa kể chuyện gì?Trong câu chuyện có những nhân vật nào?
+Ai đã làm vỡ lọ hoa?
+ Khi bố về Minh Quân đã nói gì?
+ Mèo vàng bị bố Phạt như thế nào?
+ Vì sao bạn Minh Quân không ngủ được?
+ Bố đã nói gì khi Minh Quân nhận lỗi?
 9/20 + Qua câu chuyện này các con học tập được điều gì?
Các con phải biết nhận lỗi khi mắc lỗi và rất yêu quý các con vật nuôi gia đình.
Ví dụ 3: Truyện: “Hươu con biết nhận lỗi”, trong kế hoạch hoạt động tháng 12, 
đầu tiên tôi xác định kiến thức cần cung cấp cho trẻ.
+ Trẻ biết tên truyện: Hươu con biết nhận lỗi và biết tên các nhân vật trong 
truyện: Hươu con, Bò, Dê, Ngựa
+ Trẻ hiểu nội dung câu chuyện: Nói về bạn Hươu con rất bướng bỉnh, không 
biết lắng nghe ý kiến của người khác, cố gắng tranh cãi để bảo vệ ý kiến của 
mình. Nhưng khi biết mình sai hươu con đã dũng cảm nhận lỗi và xin lỗi các 
bạn.
Sau khi đã xác định được kiến thức và nội dung cần cung cấp cho trẻ tôi xây 
dựng hệ thống câu hỏi như sau:
+ Trong câu chuyện có những nhân vật nào?
+ Khi lên đồi tìm lá non hươu con đã gặp ai?
+ Hươu con gọi chị Bò là gì?Khi nghe Bò nói vậy thái độ của hươu thế nào?
+ Chị bò đã nhờ ai phân xử?
+ Tại sao hươu và dê lại nhầm lẫn như vậy?
+ Điều gì đã xảy ra khi hươu cứ gọi Bò và Dê là Hươu?
+ Vậy ai đã giúp ba bạn tìm ra câu trả lời? Bằng cách nào?
+ Khi soi mình dưới dòng nước trong xanh Hươu con đã phát hiện ra điều gì?
+ Khi biết mình có lỗi Hươu con đã làm gì?
+ Giáo dục: Qua câu chuyện con thích nhân vật nào? Vì sao?
Ví dụ 4: Truyện:“Ai đáng khen nhiều hơn”, trong kế hoạch giáo dục tháng 9
- Kiến thức:
+ Trẻ biết tên câu chuyện “Ai đáng khen nhiều hơn”, biết tên các nhân vật trong 
truyện: Thỏ mẹ, Thỏ anh, Thỏ em, Nhím, Sóc, mẹ con cô Gà mái hoa mơ.
+ Trẻ hiểu nội dung câu chuyện: Nói về 2 anh em thỏ: Thỏ em biết vâng lời mẹ, 
luôn nghĩ đến mẹ, nhưng chưa biết giúp đỡ mọi người xung quanh. Thỏ anh biết 
vâng lời mẹ, quan tâm đến em và giúp đỡ mọi người xung quanh. Thỏ anh đáng 
khen hơn.
- Khi đã xác định kiến thức và nội dung tôi đưa ra hệ thống câu hỏi:
+ Cô vừa kể cho chuyện gì?Trong truyện có những ai?
+ Thỏ em là người con như thế nào?
+ Vì sao con biết thỏ em là người biết vâng lời mẹ?
Vì sao con biết thỏ em chưa quan tâm đến mọi người xung quanh?
+ Còn thỏ anh là người như thế nào?
 10/20 + Vì sao con biết thỏ anh là người biết vâng lời mẹ và quan tâm đến em và biết 
giúp đỡ mọi người xung quang?
+ Thỏ anh và thỏ em ai đáng khen nhiều hơn? Vì sao thỏ anh đáng khen hơn?
+ Qua câu chuyện con học tập được điều gì ?
3. Biện pháp 3: Làm đồ dùng đồ chơi tự tạo phục vụ hoạt động cho trẻ làm 
quen tác phẩm văn học
 Như chúng ta đã biết, tư duy của trẻ ở lứa tuổi này là tư duy trực quan hình 
tượng nếu như cô chỉ kể cho trẻ nghe nhiều lần bằng lời thì trẻ sẽ nhanh chán và 
tiết học sẽ không thu được kết quả cao. Muốn trẻ hào hứng tham gia và yêu 
thích hoạt động làm quen với tác phẩm văn học thì trong quá trình dạy cô phải 
chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, đồ chơi, phải có sự kết hợp giữa vật thật, tranh ảnh và 
mô hình với nhau. Tuy nhiên, hiên nay ở trường mầm non không phải tiết học 
nào cũng được trang bị đồ dùng đầy đủ, hơn nữa kinh phí để mua mới đồ dùng 
dạy học thường rất đắt. Vì vậy tôi đã tìm tòi và tận dụng những nguyên liệu sẵn 
có để làm thêm đồ dùng đồ chơi phục vụ tiết học LQVTPH. Nhà trường đã đóng 
được một cái sân khấu rối để treo phông màn trình diễn và với kiến thức làm đồ 
dùng đồ chơi được học ở trường sư phạm mầm non thì trên khung sân khấu tôi 
dán các bức tranh phong cảnh phù hợp với nội dung từng câu chuyên, phù hợp 
với hoạt cảnh nhân vật. Để làm sân khấu rối thêm đẹp tôi phải chuẩn bị những 
nguyên liệu sau: giấy màu, bìa cứng, vải dạ, rơm, cỏ nhựa, bóng đèn. Sau khi đã 
có nguyên liệu tôi dùng màu để vẽ những bức tranh phong cảnh phù hợp với nội 
dung câu chuyện. Bức tranh này được tôi dán ở phía sau sân khấu để làm hình 
nền. Bề mặt của sa bàn rối được tôi tranh trí thêm cỏ cây bằng nhựa, hoặc bằng 
vải dạ dán lên tấm nhựa cho đứng được. Cuối cùng tôi lắp thêm một bóng đèn ở 
giữa sân khấu rối, khi diễn rối tôi cắm điện vào. Sa bàn rối này được làm bằng 
gỗ.
 ( Minh chứng 1: Hình ảnh sân khấu rối)
 Ngoài ra, tôi còn tận dụng thùng bìa cát tông to làm phông nền cho sân khấu 
rối. Tôi chuẩn bị thêm giấy màu, màu nước, xốp màu, vải dạ để tạo thành cây 
cối, hoa, mây,ông mặt trời, tạo hoạt cảnh để diễn rối phù hợp với nội dung câu 
chuyện.
 Đối với các bài thơ tôi lại có cách thiết kế các sa bàn rối khác để phù hợp với 
mục đích giảng dạy. Đối với loại sa bàn này tôi chuẩn bị nguyên liệu như sau: 
Một chiếc bàn, vải, vải dạ, rơm, giấy màu, bìa cứng. Cách làm như sau: tôi có 
thể tận dụng những cái bàn có săn của trẻ, tôi cắt vải và may thành rèm để che 
phần chân của bàn, tiếp đó tôi trang trí thêm hoạt cảnh ở phía trên bằng cách làm 
những cái cây bằng vải dạ, cắt rơm làm thành nhà, tôi vẽ thêm cỏ, hoa lên bìa 
 11/20 giấy sau đó cắt ra dùng keo nến gắn vào mặt của sa bàn rối. Như vậy là tôi đã 
tạo ra được một cái sa bàn rối rất đẹp. 
 (Minh chứng 2: Hình ảnh sa bàn dối)
 Bên cạnh việc làm sa bàn rối tôi còn tận dụng những mảnh vải vụn, bông, thú 
bông, kim, chỉ, để làm thành các con rối. Để làm được những con rối này tôi cắt 
tấm vải để tạo thành đầu rối, nhét bông bên trong, dùng kim chỉ đính mắt mũi 
cho nhân vật rối, đối với những con thú bông tận dụng được tôi lấy phần đầu của 
thú bông để làm thành phần đầu cho con rối, sau đó tôi lại cắt vải và may thành 
những bộ quần áo cho các nhân vật rối. Từ đó tôi làm thêm được rất nhiều rối 
tay để diễn rối cho trẻ xem, nhờ đó tạo cho trẻ một tâm trạng vui vẻ, phấn khởi 
khơi gợi tính tò mò, ham hiểu biết của trẻ. 
 (Minh chứng 3: Hình ảnh dối tay)
 Bên cạnh đó tôi còn làm các con rối từ những tờ giấy màu và cắt dán mắt, 
mũi, đầu từ xốp màu và dán vào que đè lưỡi, tạo thành các con vật và rối ngộ 
nghĩnh. 
 (Minh chứng 4: Hình ảnh dối que)
 Ngoài việc làm các loại rối tay, rối que, từ những nguyên liệu như bìa cứng, 
xốp, vải dạ thì tôi cũng đã tạo ra các con rối ngón. Tôi vẽ và tạo hình những 
nhân vật trong chuyện ra vải dạ. Sau đó, tôi dùng vải dạ cắt và khâu lại tạo thành 
cái túi nhỏ. Và cắt mắt, mũi và dính vào cái túi đó để cô hoặc trẻ có thể lồng hai 
ngón tay vào được. Khi sử dụng luồn ngón giữa và ngón trỏ để di chuyển, nhân 
vật đi lại trên sa bàn rất sống động và ngộ nghĩnh. Tương tự như vậy tôi làm 
được những con rối thìa bằng cách cắt len dính vào tạo thành tóc và dùng xốp, 
vải dạ tạo thành mắt, mũi, mồm dính vào thìa là tôi đã có một bộ đồ dùng rất 
đẹp mắt để dạy, giúp trẻ tập trung nghe cô kể, nhớ và hiểu nội dung câu chuyện 
nhanh hơn. 
 (Minh chứng 5: Hình ảnh dối ngón tay)
 Ngoài ra, tôi cũng đã sử dụng các nguyên vật liệu như: vải dạ, xốp màu, bìa 
cứng, quả bóng nhựa để tạo thành các bộ trang phục cho các nhân vật trong 
truyện vô cùng đẹp mắt. Từ những điều tưởng chừng vô cùng đơn giản lại giúp 
trẻ được trải nghiệm và hấp dẫn trẻ hơn với các câu chuyện 
4. Biện pháp 4: Tổ chức các hình thức tổ chức dạy trẻ LQTPVH
* Nắm vững các thủ thuật đọc, kể diễn cảm
- Nắm vững thanh điệu cơ bản của tác phẩm:
Xác định thanh điệu cơ bản lúc trình bày tác phẩm là hết sức quan trọng. Nếu 
chúng ta xác định nhầm thanh điệu sẽ dẫn đến trình bày sai lạc chủ đề tư tưởng 
 12/20 của tác phẩm và do đó không giúp trẻ hiểu đúng nội dung tác phẩm và làm hiệu 
quả những HĐ LQTPVH không đạt hiệu quả cao.
Muốn tìm được thanh điệu của tác phẩm, tôi phải đọc kĩ để nắm được chủ đề tư 
tưởng, nội dung nghệ thuật của tác phẩm, để trên cơ sở xác định thanh âm cơ 
bản khi trình bày cho phù hợp. 
 (Minh chứng 6: Hình ảnh cô giáo ngồi dạy trẻ)
Ví dụ khi kể chuyện “Chú vịt xám”, chủ đề là phê phán chú vịt xám không vâng 
lời mẹ, tôi kể với thanh điệu cơ bản êm nhẹ. Còn những với câu chuyện kể Bác 
Hồ, tôi sử dụng thanh điệu trang trọng để thể hiện lòng kính yêu, sự ngưỡng mộ 
trước phẩm chất đạo đức giản dị nhưng rất vĩ đại của Bác Hồ- vị cha già dân tộc.
Ngoài ra, với những bài thơ miêu tả thiên nhiên được viết với thanh điệu vui 
tươi, náo nhiệt( Bài thơ”Kể cho bé nghe”- Trần Đăng Khoa; “Trẻ vui trẻ cười”- 
Võ Quảng”
- Nắm vững ngữ điệu tác phẩm:
Ngữ điệu giọng đóng vai trò quan trọng trong việc trình bày tác phẩm và nhờ có 
ngữ điệu của cô giúp trẻ hiểu đúng ý nghĩa của tác phẩm, biết được cá tính, tâm 
trạng, hành vi của nhân vật, thông qua đó mà giáo dục trẻ lòng yêu, ghét với 
từng loại nhân vật. 
Muốn cho sắc thái ngữ điệu được phong phú, tôi sử dụng các yếu tố : cường độ 
giọng, ngắt hơi, lên giọng, xuống giọng và âm sắc về chất của giọng.
Đối với tác phẩm thơ, cần xem xét đó là loại thơ gì để chọn giọng đọc cho thích 
hợp. Với những bài thơ vui, dí dỏm phải đọc với ngữ điệu hóm hỉnh. Ví dụ bài 
thơ “Ông mặt trời” đọc với ngữ điệu hóm hỉnh là rất hợp.
Đối với chuyện kể, tôi phải dựa vào nội dung phản ánh của truyện, hệ thống 
nhân vật, ngôn ngữ nhân vật để định ra ngữ điệu tương ứng.
Ví dụ, khi kể chuyện “Dê con nhanh trí”, tôi chú ý đến tính cách, đặc điểm của 
từng nhân vật để xác định ngữ điệu cho đúng. Trong truyện cả dê mẹ và chó sói 
đều nói câu “Con chó sói hung ác, đuổi cổ nó đi” với dê con. Khi kể chuyện, cô 
không thể dùng cùng một ngữ điệu để kể với trẻ rằng đây là dê mẹ nói, chó sói 
nói, mà bản thân cô phải giúp trẻ biết được con chó sói đã nói câu đó với giọng 
như thế nào? Dê mẹ nói ra sao? Dê mẹ hiền lành, dịu dàng, giọng nói thanh và 
trong, vậy ngữ điệu, âm sắc giọng của cô phải thể hiện điều đó. Sói hung ác, 
gian ngoan, xảo quyệt và lừa đảo, giọng sói ồm ồm. Cô cũng phải thể hiện được 
sự gian xảo trong giọng nói của con sói: con sói vừa cố bắt chước cho giống 
giọng dê mẹ vừa không giấu được vẻ gian ngoan, xảo quyệt, giọng nói cần bộc 
lộ tính cách ấy.
- Tư thế, cử chỉ, nét mặt:
 13/20 Bên cạnh chú trọng đến giọng kể, tôi còn chú ý thể hiện nét mặt, cử chỉ, tư thế 
phù hợp với diễn biến câu chuyên thì mới thu hút được sự chú ý của trẻ. Nét mặt 
tức là vẻ mặt. Vẻ mặt người đọc biểu lộ những điều miệng nói ra. Nếu là một 
câu chuyện vui thì nét mặt cô phải lộ rõ vẻ hân hoan, chào đón, nếu là chuyện 
buồn thì nét mặt lộ vẻ ủ dột, buồn rầu, thương cảm. Cô không nên gắng sức biểu 
hiện một cách giả tạo, vẻ mặt đó tự nó sẽ xuất hiện nếu cô giáo hiểu nội dung và 
cảm thụ được nó. Vẻ mặt thờ ơ, lãnh cảm, không biểu lộ gì cả là điều hết sức 
cần tránh vì như thế trẻ không nhận thức được ý nghĩa của tác phẩm một cách 
đầy đủ và trọn vẹn. Tuy nhiên, cô cũng tránh lạm dụng nét mặt không trẻ sẽ ít 
chú ý đến ngôn ngữ truyền đạt của cô.
Cử chỉ là những động tác của tay, cử chỉ của cô cũng như tư thế, nét mặt vốn là 
phương tiện bổ sung vào bài dạy. Những cử chỉ đơn gian, chân thực, diễn cảm 
và có nội dung sâu sắc không thể được sử dụng tùy tiện và máy móc mà phải 
phù hợp với những xúc động trong tâm hồn người đọc. Vì thế cử chỉ khi đọc 
truyện cho trẻ phải gọn nhẹ, nói đúng hơn là cử chỉ biểu lộ thái độ của người đọc 
đối với nhân vật, sự kiện được miêu tả trong tác phẩm.
- Nắm vững ngữ điệu tác phẩm:
Ngữ điệu giọng đóng vai trò quan trọng trong việc trình bày tác phẩm và nhờ có 
ngữ điệu của cô giúp trẻ hiểu đúng ý nghĩa của tác phẩm, biết được cá tính, tâm 
trạng, hành vi của nhân vật, thông qua đó mà giáo dục trẻ lòng yêu, ghét với 
từng loại nhân vật. 
Muốn cho sắc thái ngữ điệu được phong phú, tôi sử dụng các yếu tố : cường độ 
giọng, ngắt hơi, lên giọng, xuống giọng và âm sắc về chất của giọng.
Đối với tác phẩm thơ, cần xem xét đó là loại thơ gì để chọn giọng đọc cho thích 
hợp. Với những bài thơ vui, dí dỏm phải đọc với ngữ điệu hóm hỉnh. Ví dụ bài 
thơ “Ông mặt trời” đọc với ngữ điệu hóm hỉnh là rất hợp.
Đối với chuyện kể, tôi phải dựa vào nội dung phản ánh của truyện, hệ thống 
nhân vật, ngôn ngữ nhân vật để định ra ngữ điệu tương ứng.
Ví dụ, khi kể chuyện “Dê con nhanh trí”, tôi chú ý đến tính cách, đặc điểm của 
từng nhân vật để xác định ngữ điệu cho đúng. Trong truyện cả dê mẹ và chó sói 
đều nói câu “Con chó sói hung ác, đuổi cổ nó đi” với dê con. Khi kể chuyện, cô 
không thể dùng cùng một ngữ điệu để kể với trẻ rằng đây là dê mẹ nói, chó sói 
nói, mà bản thân cô phải giúp trẻ biết được con chó sói đã nói câu đó với giọng 
như thế nào? Dê mẹ nói ra sao? Dê mẹ hiền lành, dịu dàng, giọng nói thanh và 
trong, vậy ngữ điệu, âm sắc giọng của cô phải thể hiện điều đó. Sói hung ác, 
gian ngoan, xảo quyệt và lừa đảo, giọng sói ồm ồm. Cô cũng phải thể hiện được 
sự gian xảo trong giọng nói của con sói: con sói vừa cố bắt chước cho giống 
 14/20 giọng dê mẹ vừa không giấu được vẻ gian ngoan, xảo quyệt, giọng nói cần bộc 
lộ tính cách ấy.
- Tư thế, cử chỉ, nét mặt:
Bên cạnh chú trọng đến giọng kể, tôi còn chú ý thể hiện nét mặt, cử chỉ, tư thế 
phù hợp với diễn biến câu chuyên thì mới thu hút được sự chú ý của trẻ. Nét mặt 
tức là vẻ mặt. Vẻ mặt người đọc biểu lộ những điều miệng nói ra. Nếu là một 
câu chuyện vui thì nét mặt cô phải lộ rõ vẻ hân hoan, chào đón, nếu là chuyện 
buồn thì nét mặt lộ vẻ ủ dột, buồn rầu, thương cảm. 
5. Biện pháp 5: Phối kết hợp với phụ huynh
 Phụ huynh chính là nhân tố quyết định trong việc tạo nguồn nguyên liệu để 
tôi làm đồ dùng phục vụ hoạt động LQTPVH. Ngay từ đầu năm học tôi đã tổ 
chức họp phụ huynh và trao đổi về vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường cũng 
như ở nhà để cô giáo và phụ huynh cùng kết hợp dạy trẻ. Đặc biệt tôi đề cập đến 
tầm quan trọng của hoạt động LQTPVH, vì đây là hoạt động giúp trẻ phát triển 
ngôn ngữ một cách mạch lạc, giúp trẻ phát triển khả năng cảm thụ văn học. Để 
việc giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao, tôi phối kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ 
huynh tuyên truyền trao đổi thường xuyên qua mỗi chủ đề học nhằm giúp phụ 
huynh biết được chủ đề tới con em mình học bài thơ, câu chuyện gì để cha mẹ 
về nhà rèn thêm kiến thức cho trẻ, tạo điều kiện cho các cô giáo khi dạy trẻ làm 
quen văn học ở, từ đó chất lượng cho trẻ làm quen với văn học tại nhà trường 
được nâng lên. Để tạo được sự tin tưởng và thu hút sự tham gia của phụ huynh 
vào hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ của lớp tôi phải liên lạc thường xuyên với 
gia đình để tìm hiểu sinh hoạt của trẻ ở gia đình, thông tin cho cha mẹ trẻ biết về 
tình hình của trẻ ở lớp, những thay đổi của trẻ nếu có để kịp thời có biện pháp 
giáo dục phù hợp. Đối với những trẻ tiếp thu chậm tôi trao đổi trực tiếp với phụ 
huynh để cùng đưa ra những biện pháp để trẻ tiếp thu kiến thức một cách tốt 
nhât. 
 (Minh chứng 7: Hình ảnh phụ huynh trao đổi với cô giáo)
 Bên cạnh đó tôi cũng vận động phụ huynh hỗ trợ những nguyên vật liệu như: 
vải vun, bông, giấy, bìa, vỏ lọ sữa... để làm đồ dùng dạy học cho trẻ. Tôi cũng 
thường xuyên trao đổi với các phụ huynh làm nghề mộc để được tư vấn cách 
đóng sa bàn rối sao cho hiệu quả nhất. Ngoài ra tôi cũng nhờ những phụ huynh 
làm nghề may máy giúp cho những cái rèm sa bàn rối, hay tư vấn giúp tôi cách 
làm một số con rối phức tạp. Từ đó tôi đã làm được rất nhiều rối, và đồ dùng 
giúp trẻ hoạt động trong các giờ hoạt động góc cũng như giờ hoạt động 
LQVTPVH. Từ đó chất lượng giáo dục trẻ cũng được nâng lên rõ rệt.
 (Minh chứng 8: Hình ảnh phụ huynh mang nguyên liệu đưa cho cô giáo)
 15/20 IV. Hiệu quả của đề tài
 Qua một năm nghiên cứu và áp dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ 
cho trẻ 3-4 tuổi tôi đã thu được kết quả như sau:
* Về phía trẻ:
* Kết quả khảo sát chất lượng của trẻ cuối năm tại lớp nhà trẻ 3 - 4 tuổi trên 
24 cháu
 STT Đầu năm Đầu năm Cuối năm Tăng
 SL TL SL TL SL TL
 % % %
 1 Số trẻ hứng thú tham gia hoạt 8 33 22 91 14 58
 động
 2 Số trẻ chưa hứng thú tham gia 9 38 20 83 11 46
 hoạt động
 3 Số trẻ mạnh dạn tự tin khi 8 33 23 95 15 62
 tham gia hoạt động
 4 Số trẻ nhút nhát thu động khi 6 25 20 83 14 58
 tham gia vào hoạt động
* Về giáo viên:
- Tạo được môi trường phong phú phù hợp với nội dung của từng chủ đề trong 
tháng và chủ đề sự kiện.
- Có kỹ năng tổ chức các hoạt động văn học một cách tự tin, linh hoạt.
- Đồ dùng, đồ chơi trong lớp phong phú hơn.
* Về phía phụ huynh:
- Đã có hiểu biết về tầm quan trọng của việc phát triển văn học cho trẻ
- Đã ủng hộ nguyên liệu phế thải để làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ.
- Đã kết hợp với giáo viên cùng thực hiện tốt việc phát triển văn học cho trẻ
 III: KẾT THÚC VẤN ĐỀ
 I. Kết luận
 16/20 Sau quá trình áp dụng sáng kiến của mình với việc cho trẻ LQTPVH tôi nhận 
thấy khả năng cảm thụ văn học của trẻ có những chuyển biến rõ rệt: Trẻ hứng 
thú tham gia hoạt động học, trẻ biết cảm thụ cái hay, cái đẹp trong cuộc sông, có 
thái độ đúng mực với cái thiện, cái ác, biết yêu quê hương, đất nước, yêu ông bà 
cha mẹ...Giáo viên thì có thêm những biện pháp để tổ chức hoạt động LQTPVH 
đạt hiệu quả cao hơn.Từ đó tôi nhận thấy sáng kiến của mình đã phần nào góp 
phần vào công việc đổi mới phương pháp giáo dục. Đổi mới để phù hợp với tình 
hình thực tế ở địa phương, với điều kiện lớp học và khả năng nhận thức của trẻ.
 Giáo viên mầm non phải thường xuyên học tập bằng nhiều hình thức, tập 
huấn tham khảo tài liệu chuyên ngành, học hỏi đồng nghiệp để có kiến thức hiểu 
biết sâu rộng trong chuyên môn, kịp thời cập nhật các thông tin làm phong phú 
tâm hồn và nâng cao về mọi mặt. Phải có tâm hồn cao đẹp, có trái tim nhân hậu, 
yêu nghề mến trẻ, hiểu được tâm lý trẻ và khả năng nhận biết của trẻ từ đó để có 
biện pháp giáo dục phù hợp.
 Để tổ chức tốt hoạt động LQTPVH trước hết giáo viên phải yêu thích văn 
học, có khả năng cảm thụ các tác phẩm văn học, có khả năng cảm nhận cái hay, 
cái đẹp trong các tác phẩm thơ chuyện, hiểu và biết thể hiện bằng chính cảm xúc 
của mình, phải xác định được giọng đọc của từng bài thơ, từng câu chuyện. Phải 
luyện giọng đọc kể diễn cảm phối hợp ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ minh họa phù 
hợp với nội dung tác phẩm nhằm thu hút sự chú ý tập trung của trẻ.
 Với trẻ nhỏ cô phải lựa chọn những hình thức tổ chức hấp dẫn để thu hút sự 
chú ý của trẻ, từ đó tạo cho trẻ sự say mê, yêu thích văn học. Giáo viên cần 
chuẩn bị đầy đủ đồ dùng trực quan, những phải được thay đổi chủng loại theo 
từng bài dạy. Giáo viên phải không ngừng học hỏi để trau dồi kiến thức chuyên 
môn bằng cách tham khảo qua các sách báo có liên quan về ngành học và luôn 
sáng tạo trong quá trình dạy trẻ, không được đầu hàng trước khó khăn mà phải 
tìm cách giải quyết khó khăn đó.
 II. Khuyến nghị
 Đề nghị cấp trên tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm thêm trang thiết bị 
đồ dùng dạy học, trang bị thêm tài liệu tham khảo hoạt động LQTPVH.
Trong quá trình thực hiện đề tài này chắc không thể tránh khỏi những thiếu sót. 
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc, các thầy cô giáo, các nhà quản 
lý giáo dục để đề tài này của tôi được hoàn thiện hơn và rút kinh nghiệm cho 
những lần sau và quá trình giảng dạy của bản thân sau này.
 17/20 Phụ lục: Một số minh chứng
 (Minh chứng 1: Hình ảnh sân khấu rối)
 (Minh chứng 2: Hình ảnh sa bàn dối)
 (Minh chứng 3: Hình ảnh dối tay)
 18/20 (Minh chứng 4: Hình ảnh dối que)
 (Minh chứng 5: Hình ảnh dối ngón tay)
(Minh chứng 6: Hình ảnh cô giáo ngồi dạy trẻ)
 19/20 (Minh chứng 7: Hình ảnh phụ huynh trao đổi với cô giáo)
(Minh chứng 8: Hình ảnh phụ huynh mang nguyên liệu đưa cho cô giáo)
 20/20

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_giup_tre_3_4_tuoi_hoc_tot_hoat_dong_la.doc