Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi "phát triển ngôn ngữ" thông qua hoạt động làm quen với văn học

docx 15 trang Hạ Thu 02/04/2026 220
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi "phát triển ngôn ngữ" thông qua hoạt động làm quen với văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi "phát triển ngôn ngữ" thông qua hoạt động làm quen với văn học

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi "phát triển ngôn ngữ" thông qua hoạt động làm quen với văn học
 Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi "phát triển ngôn ngữ" thông qua hoạt 
động làm quen với văn học
 2
 A . MỞ ĐẦU
 Trẻ em không chỉ là niềm vui, niềm hạnh phúc của mỗi gia đình mà 
còn là tương lai của đất nước, của xã hội. Hồ Chí Minh đã từng nói: “ Non sông 
Việt Nam có trở nên vẽ vang hay không, dân tộc Việt Nam có trở nên sánh vai 
với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ phần lớn ở công học tập 
của các cháu” Non sông Việt Nam có được lớn mạnh hay không, xã hội Việt 
Nam có trở nên phồn vinh hay không, điều đó phụ thuộc phần lớn vào sự nghiệp 
giáo dục của nước nhà. Trẻ em là người trực tiếp được giáo dục, là những chủ 
nhân tương lai của đất nước. Do đó, sự nghiệp giáo dục đã và đang được Đảng 
và nước ta quan tâm, coi trọng hàng đầu. Giáo dục Mầm non là khâu đầu tiên 
trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng cho sự hình thành và phát triển 
nhân cách con người. Hơn ai hết, bản thân tôi là một giáo viên Mầm non, tôi 
hiểu vai trò, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ là giúp trẻ 
phát triển hàihòa, cân đối về mọi mặt “ Đức - Trí - Thể - Mỹ ”
 Hoạt động cho trẻ làm quen văn học đã đóng góp một phần không nhỏ 
vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Cho trẻ tham gia vào hoạt động văn học là 
chúng ta đã giúp cho trẻ hình thành, phát triển nhân cách toàn diện về trí tuệ, 
đạo đức, thẩm mỹ, đặc biệt là chúng ta đã giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc. 
Vậy
phát triển ngôn ngữ mạch lạc là gì? Phát triển ngôn ngữ mạch lạc là phát triển 
khả năng nghe và hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày lôgíc, trình tự, chính xác, 
đúng ngữ pháp cho trẻ.
 Làm thế nào để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc? Đó là điều tôi 
phải băn khoăn, suy nghĩ tìm ra những giải pháp, cách làm để giúp trẻ phát triển 
ngôn ngữ của mình. Hoạt động cho trẻ làm quen văn học là một lĩnh vực mà qua 
đó tôi có thể giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc là một cách tốt nhất, có hiệu 
quả nhất, đó cũng là lí do tôi chọn đề tài “Làm thế nào để giúp trẻ 3 - 4 tuổi phát 
triển ngôn ngữ mạch lạc thông qua hoạt động làm quen với văn học” 3
 B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ KHOA HỌC.
 Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng của con 
người, thông qua ngôn ngữ con người có thể giao lưu để hiểu nhau và trao đổi 
những thông tin cần thiết. Đối với trẻ, ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập 
vào thế giới xung quanh, là cơ sở để hình thành và phát triển nhân cách. Với trẻ 
3 – 4 tuổi, vốn từ của trẻ tương đối phong phú về số lượng cũng như từ loại. Tư 
duy của trẻ phát triển hơn, có nội dung hơn. Trẻ biết phát biểu những nhận định 
của mình, trẻ kể lại được những chuyện mà trẻ trong thấy, nghe được. Trẻ có thể 
kể theo tranh, đồ chơi hoặc đồ vật mặc dù phần lớn còn bắt chước giọng kể của 
người lớn. Thông qua các tác phẩm văn học như truyện kể, thơ ca, hò, vè, câu
đố, tục ngữ, ca dao . Trẻ đã thực sự bị lôi cuốn vào các hoạt động khác một 
cách tích cực, có hiệu quả. Qua đó giáo viên có nhiều thuận lợi để giúp trẻ phát 
triển ngôn ngữ mạch lạc một giờ dạy hay không chỉ dừng lại ở chổ trẻ hiểu được 
điều gì? Trẻ có hứng thú lắng nghe hay không? Mà người giáo viên mầm non
cần phải giúp trẻ biết thể hiện những suy nghĩ của mình, giúp trẻ nhập vai cùng 
nhân vật, sống cùng nhân vật, đặc biệt trẻ biết sử dụng ngôn ngữ của mình để 
đánh giá nhân vật, trò chuyện, đàm thoại, biết diễn đạt nguyện vọng sự hiểu biết 
của mình một cách mạch lạc. Trẻ biết kể lại câu chuyện theo tranh, đồ chơi, kể
chuyện sáng tạo, biết kể trình tự, diễn cảm, rõ ràng mạch lạc, không nói ngọng, 
nói lắp.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
 Trong những năm qua, việc cho trẻ làm quen với văn học là một 
chuyên đề đã được Bộ giáo dục, Sở giáo dục đào tạo Thành phố Hà Nội, Phòng 
GD- ĐT huyện ba vì triển khai rộng rãi về các trường học, đến tận từng giáo 
viên với nhiều giải pháp tích cực và thực hiện có hiệu quả. Trong quá trình thực 
hiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đồ dùng đồ chơi được tăng trưởng 
đáng kể, môi trường trong và ngoài lớp phong phú lôi cuốn trẻ tham gia vào 
hoạt động. Từ đó chất lượng trên trẻ tăng lên rõ rệt, nhiều trẻ có năng khiếu kể 
chuyện diễn cảm, trẻ biết nhập vai vào nhân vật, thể hiện đúng các tình tiết của 4
câu chuyện . Song để duy trì và nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với văn 
học, nhất là việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một việc làm hết sức khó khăn, 
vì vậy trong quá trình thực hiện đòi hỏi bản thân tôi phải linh hoạt sáng tạo, có 
những đổi mới trong giảng dạy để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ một 
cách tốt nhất.
III. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH.
 Bản thân là giáo viên dạy trong nhà trường, tôi xác định rõ vai trò trách 
nhiệm của mình cùng với chị em phấn đấu đưa nhà trường hoàn thành tốt nhiệm 
vụ đề ra. Để đạt được kết quả tốt hơn thì việc làm đầu tiên là nâng cao chất 
lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Bản thân tôi được sự quan tâm tận tình, chỉ đạo sâu 
sát của ban giám hiệu nhà trường về bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng 
sư phạm và được cung cấp một số trang thiết bị phục vụ cho việc làm quen văn 
học như tranh ảnh, băng đĩa kể chuyện, máy chiếu, truyện tranh và nhiều đồ 
dùng đồ chơi phong phú hấp dẫn khác . Được tham gia các lớp tập huấn xây 
dựng chương trình, tự chọn những bài dạy phù hợp với vùng miền, tham gia 
thao giảng cụm, trường, dự giờ các tiết dạy mẫu về chuyên đề làm quen văn học 
như: Kể chuyện, đọc thơ nên bản thân đã tích lũy được một số kinh nghiệm 
trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ. Hơn nữa chuyên đề “Làm quen văn học” đã 
được triển khai nhiều năm nên phụ huynh cũng có một phần nào nhận thức được 
tầm quan trọng của môn học và có quan tâm hơn đến việc học tập của các cháu.
Mặt khác, bản thân tôi được sống trong tập thể chị em đoàn kết, yêu thương 
quan tâm giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng như trong công việc, cùng nhau 
học hỏi trao đổi kinh nghiệm hơn nữa bản thân tôi cũng có thế mạnh của mình 
ham tìm tòi học hỏi, thích khám phá những cái hay, cái lạ, say sưa nghiên cứu 
bài soạn, linh hoạt sáng tạo nhiều cái mới trong giảng dạy, có ý thức phấn đấu 
vươn lên, có năng khiếu kể chuyện, đọc thơ, có trình độ chuyên môn và năng lực 
sư phạm vững vàng, đặc biệt tôi có một chút về năng khiếu hội họa nên cũng 
một phần nào thuận tiện trong việc thiết kế sa bàn, vẽ tranh ảnh . 5
IV. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
 1. Tìm hiểu đặc điểm, tình hình nhận thức của trẻ:
 Để giúp cho trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc thì trước hết giáo viên 
phải nắm vững đặc điểm tâm, sinh lý và hoàn cảnh của trẻ. Vào đầu năm học tôi 
đã tổ chức nhiều cuộc trò chuyện với trẻ, kể cho trẻ nghe vài câu chuyện ngắn 
tương đối dễ, sau đó đặt ra các câu hỏi như: Cô vừa kể cho các con nghe câu 
chuyện gì? Trong câu chuyện có những ai? Hoặc cho trẻ kể về gia đình bé . 
Trong quá trình đó tôi luôn chú ý quan sát đàm thoại với trẻ và tiến hành khảo 
sát khả năng cảm thụ văn học cũng như khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của trẻ, từ 
đó đề ra phương hướng giáo dục cho từng các nhân và cho cả lớp một cách thích 
hợp. Mặt khác, gia đình là một yếu tố rất quan trọng để giúp trẻ phát triển ngôn 
ngữ. Từ những lời ru của bà, câu chuyện kể của ông, lời trò chuyện của cha mẹ, 
anh chị là những bài học hiệu quả nhất để giáo dục trẻ, giúp trẻ phát triển hơn về 
ngôn ngữ tiếng việt. Đa số trẻ ở đây có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thường ít 
được quan tâm chăm sóc, nên khả năng cảm thụ tác phẩm văn học, đặc biệt là sự 
phát triển ngôn ngữ của các cháu còn gặp nhiều hạn chế . Từ hoàn cảnh và đặc 
điểm tình hình nhận thức của trẻ, qua đó giáo viên có kế hoạch giảng dạy và bồi 
dưỡng thích hợp cho trẻ.
 2. Xây dựng kế hoạch:
 Dựa vào tình hình của lớp, trên cơ sở kế hoạch năm, tháng của nhà 
trường, tôi đã xây dựng kế hoạch năm, tháng phù hợp với nhóm lớp. Được sự 
đồng ý phê duyệt của ban giám hiệu nhà trường, tôi phân công nội dung, phần 
hành công việc cho giáo viên cùng lớp và triển khai cụ thể kế hoạch trong từng 
chủ đề, chủ điểm, kết thúc chủ đề, chủ điểm tôi đánh giá lại những việc làm 
được và chưa làm được, từ đó rút kinh nghiệm cho chủ đề sau. Trong quá trình 
xây dựng kế hoạch, tôi chú ý đến việc giáo dục trẻ dân tộc. về ngôn ngữ tiếng 
việt và bồi dưỡng thêm cho trẻ kể chuyện theo tranh, kể chuyện sáng tạo vào các 
buổi chiều hoặc mọi lúc mọi nơi. Lên kế hoạch trò chuyện với trẻ hàng ngày, 
chú ý quan tâm nội dung của các buổi trò chuyện đó. Khi thực hiện kế hoạch tôi 
luôn bám sát chương trình dạy, nhằm theo giỏi rèn luyện những trẻ cá biệt . 6
Phối hợp chính quyền, vận động phụ huynh để cùng thực hiện chương trình này.
Ví dụ: Khi thực hiện chủ điểm “Bản thân”
 - Tuần 1: Chủ đề con “Cơ thể tôi”
 + Thứ 2: Trò chuyện với trẻ về các bộ phận trên cơ thể trẻ. Sinh hoạt 
chiều: Cho trẻ làm quen câu chuyện “Cậu bé mũi dài”
 + Thứ 3: Hoạt động ngoài trời: Tôi cho trẻ tìm hiểu nội dung câu truyện.
 + Thứ 4: Hoạt động chung: Dạy trẻ tập kể chuyện “Cậu bé mũi dài”.
 Hoạt động góc: Cho bé đóng kịch chuyện “Cậu bé mũi dài” Sinh hoạt 
chiều: Cho bé kể chuyện theo tranh “Cậu bé mũi dài”, bồi dưỡng trẻ yếu.
Giờ đón trả trẻ: Tôi trò chuyện với trẻ về nội dung câu truyện, trò chuyện với 
phụ huynh để trao đổi về tình hình học tập của các cháu.
 3. Chuẩn bị các dụng cụ trực quan đầy đủ, đẹp, sáng tạo:
 Lứa tuổi mầm non, là lứa tuổi tư duy trực quan hình tượng, trẻ thường 
bị hấp dẫn bởi đồ chơi, hành động chơi, màu sắc, hình dạng, kích thước, âm 
thanh của đồ chơi đặc biệt là trẻ 3 - 4 tuổi. Khi cho trẻ làm quen với một câu 
chuyện thì việc sử dụng giáo cụ trực quan để lôi cuốn trẻ, gây sự chú ý của trẻ 
vào vấn đề, nhằm giúp trẻ dễ nhớ, dễ nắm bắt câu chuyện một cách thoải mái, 
đem lại hiệu quả cao. Khi trẻ đã nhớ câu chuyện, nhớ bài thơ thì khả năng diễn 
đạt ngôn ngữ mạch lạc hơn, diễn cảm hơn. 7
 4. Dạy trẻ ngôn ngữ đối thoại:
 Ngôn ngữ đối thoại là sản phẩm của cuộc thoại có ít nhất 02 người 
tham gia. Trẻ tham gia đối thoại là tham gia vào quá trình xây dựng nội dung và 
diễn biến cuộc thoại. Trẻ luôn được thay đổi từ vai nói sang vai nghe hoặc từ vai 
nghe sang vai nói. Đối thoại đòi hỏi sự thích ứng nhanh, khi đối thoại các yếu tố 
phi ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười được sử dụng nhiều. Vì vậy 
bản thân tôi dạy trẻ đối thoại là dạy trẻ biết nghe, biết nói trong giao tiếp, biết sử 
dụng các yếu tố phi ngôn ngữ một cách tự nhiên. Dạy trẻ ngôn ngữ đối thoại 
được tôi tổ chức ở các hình thức dưới đây:
 * Trò chuyện với trẻ:
 Trò chuyện với trẻ để trao đổi thông tin, nhận biết về ý nghĩ của trẻ, trò 
chuyện với trẻ được tôi tổ chức ở mọi lúc, mọi nơi và thường xuyên trong hoạt 
động, mọi hoàn cảnh, có khi tôi trò chuyện từng trẻ, từng nhóm, khi trò chuyện 
tôi chú ý đến ngôn ngữ, cử chỉ hành động của trẻ, nhắc trẻ nói tròn câu, nói 
mạch lạc, không ngắt quảng, không nói lắp.
 Ví dụ: Tôi hỏi trẻ: Cô vừa kể cho con nghe câu truyện gì? Trong câu 
truyện có những nhân vật nào? Câu truyện nói về điều gì?...Khi trò chuyện với 
trẻ tôi đặc biệt chú ý đến những trẻ rụt rè luôn có thái độ gần gủi với trẻ, yêu 
thương trẻ, động viên khuyến khích trẻ, tạo cho trẻ sự tự tin. Trong quá trình trò 
chuyện, tôi tìm cách để đưa trẻ vào cuộc trò chuyện một cách tự nhiên, không gò 
bó, áp đặt trẻ, để trẻ tự do suy nghĩ, tự do nói theo cách của trẻ,
 Ví dụ: Tôi cho trẻ xem củ cải trắng và hỏi trẻ: Củ cải trắng có trong câu 
chuyện gì mà cô đã kể cho lớp mình nghe? Trong câu chuyện ai đã tìm thấy củ 
cải trắng? nhưng Dê con có ăn hết củ cải trắng không mà nó đã làm gì nhỉ?....
 * Đàm thoại:
 Đây là hình thức phát triển ngôn ngữ đối thoại cho trẻ mà tôi thường sử 
dụng dựa trên những sự hiểu biết của trẻ và các phương tiện trực quan, một mặt 
để cũng cố khắc sâu kiến thức, mặt khác giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc. 
Câu hỏi đàm thoại được tôi xây dựng có hệ thống, từ cụ thể đến khái quát hoặc 8
từ khái quát đến cụ thể để nhằm giúp trẻ trình bày sự hiểu biết của mình và trẻ 
biết định hướng khi trả lời,
 Ví dụ: Tôi đọc cho trẻ nghe bài thơ “Thỏ bông bị ốm”, tôi hỏi trẻ: Các 
con vừa nghe cô đọc bài thơ gì? Bài thơ nói về Thỏ bông như thế nào? (Bài thơ 
nói về Thỏ bông bị ốm) vì sao Thỏ bông bị ốm nhỉ? (vì Thỏ bông ăn bậy nên bị 
ốm) con có học theo Thỏ bông không? Con sẽ làm gì khi ăn uống nào? (con 
không học theo Thỏ bông, con sẽ giữ gìn vệ sinh khi ăn uống và ăn chín, uống 
sôi ). Khi đàm thoại với trẻ, tôi luôn luôn động viên khuyến khích trẻ, khen 
ngợi trẻ, tạo hứng thú cho trẻ say mê vào hoạt động ở các lần sau
 * Tổ chức cho trẻ chơi trò chơi đóng kịch, trò chơi phân vai:
 Chơi các trò này, giúp trẻ phát triển năng lực đối thoại phù hợp với 
ngữcảnh giao tiếp, ngôn ngữ rất cần thiết giúp trẻ giao tiếp với nhau thông qua 
nhân vật. Qua đó trẻ biết sử dụng vốn ngôn ngữ của mình vào cuộc thoại. Khi 
cho trẻ chơi, tôi chú ý quan sát khả năng diễn đạt của trẻ, đồng thời tập cho trẻ 
nói trọn câu, nói rõ từ, những từ mà trẻ chưa nói được tôi cho trẻ nhắc lại, có thể 
tôi đọc trước cho trẻ nghe sau đó cho trẻ đọc theo. Bên cạnh đó, tôi giải thích 
cho trẻ nói trọn câu thì mới có ý nghĩa trọn vẹn, còn nếu mình nói không trọn 9
câu, lời nói bị ngắt quảng thì lời nói không có ý nghĩa và không còn hay nữa để 
tạo cho trẻ có ý thức tập nói, chơi trò chơi đóng kịch hay chơi các trò chơi đóng 
vai theo chủ đề thì trẻ nắm bắt và thể hiện được ngôn ngữ, cử chỉ, hành động của 
các nhân vật, trẻ nhập vai vào nhân vật, trẻ biết phân biệt được giọng kể của các 
nhân vật trong truyện.
 Ví dụ: Khi cho trẻ đóng kịch chuyện “Bác Gấu đen và hai chú Thỏ”, tôi 
cho trẻ tự chọn vai, khi trẻ tham gia đóng kịch, tôi luôn chú ý quan sát giọng 
điệu, cử chỉ, sắc thái của từng nhân vật. Đặc biệt nhắc trẻ chú ý nói trọn câu, 
diễn đạt mạch lạc, trôi chảy, chú ý đến chính tả, ngữ pháp của trẻ.
 5. Dạy trẻ ngôn ngữ đọc thoại:
 Dạy ngôn ngữ độc thoại cho trẻ là cho trẻ giữ vai trò chủ đạo trong khi 
nói, trong khi lựa chọn nội dung, cách thức nói. Dạy trẻ ngôn ngữ độc thoại 
được tôi thể hiện ở các hình thức như: Kể chuyện theo tranh, dạy trẻ kể chuyện 
theo trí nhớ, dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
 * Dạy trẻ kể chuyện theo tranh:
 Thông qua các buổi sinh hoạt chiều, hoạt động ngoài trời tôi kể chuyện 
hoặc đọc thơ cho trẻ nghe, kết hợp với việc sử dụng hình ảnh trực quan, hệ 
thống câu hỏi. Sau đó yêu cầu trẻ kể lại cho cô và các bạn nghe. Trong khi thực 
hiện, tôi chú ý gọi những cháu có năng lực kể trước để làm trực quan cho những 
cháu kể sau. Trẻ kể được chuyện theo tranh thì giáo viên phải cung cấp các kiến 
thức khá kỷ càng về vấn đề mà trẻ sẻ trình bày. Những lúc ra chơi, tôi mở đĩa 
cho trẻ nghe để giúp trẻ nắm bắt được các giọng kể, cách diễn đạt câu chuyện, 
trẻ ghi nhớ và kể lại câu chuyện được tốt hơn,
 Ví dụ: Cho trẻ xem tranh “Tết nguyên đán”.
 Cô hỏi trẻ: Tranh vẽ gì? Con thấy có những gì? Bố đang làm gì? Mẹ 
đang làm gì? Hoa đào có màu gì? Cây quất có màu gì? Cháu còn thấy gì nữa?....
Cô kể chuyện cho trẻ nghe: “Ngày Tết thật là vui, mẹ gói bánh chưng, ba cắm 
hoa vào lọ cả nhà cùng chuẩn bị đón tết vui vẽ”. Cô cho trẻ kể và sửa sai, đặc 
biệt với những trẻ vân kiều, trẻ nói chớt, nói lắp tôi thường xuyên quan tâm để 
có kế hoạch bồi dưỡng các cháu nhiều hơn các cháu khác. Tập cho các cháu nói 10
những câu, những từ khó trước, sau đó mới tập dần cho trẻ nói trọn câu, cho trẻ 
tham gia kể chuyện, xem sách báo, qua máy chiếu, nghe băng đĩa, tạo sự yêu 
thích cho trẻ đối với môn học, đặc biệt để trẻ mạnh dạn tự tin vào chính bản thân 
mình, từ đó trẻ được phát triển ngôn ngữ hơn.
 * Kể chuyện theo trí nhớ:
 Khi cho trẻ kể chuyện theo trí nhớ, tôi lựa chọn những đề tài quen 
thuộc với trẻ, những câu truyện trẻ đã biết, đã thuộc. Khi cho trẻ kể chuyện tôi 
chú ý đến cách sử dụng ngôn ngữ của trẻ, nhắc trẻ nói trọn câu, nói đúng ngữ 
pháp.
Ví dụ: Cho trẻ kể lại một câu truyện đã học, hoặc kể về bà, người thân của bé 
khi trẻ kể tôi luôn luôn động viên, khuyến khích trẻ, với những trẻ nhút nhát, rụt 
rè tôi quan tâm chú ý nhiều hơn. Gợi ý cho trẻ tìm những ý, những từ khó để 
diễn đạt theo suy nghĩ của mình.
 * Kể chuyện sáng tạo:
 Nội dung này hơi khó hơn so với độ tuổi của trẻ, vì vậy ở nội này tôi 
thực hiện vào cuối năm và với những trẻ có năng khiếu. Khi cho trẻ kể chuyện 
sáng tạo, tôi luôn gợi mở cho trẻ, hướng cho trẻ những vấn đề để giúp trẻ nắm 
bắt được nội dung câu chuyện. Sau đó cho trẻ tiến hành kể chuyện, khi trẻ kể tôi 11
chú ý đến cách dùng từ và lựa chọn ngôn ngữ để kịp thời sửa sai cho trẻ,
Ví dụ: Tôi cho trẻ xem đàn gà đồ chơi, sau đó tôi gợi ý cho trẻ kể: “Gà mẹ dẫn 5 
chú Gà con đi ăn, vừa đi Gà mẹ vừa kêu tục tục tục”, để các chú gà con không 
bị đói Gà mẹ lo bới đất tìm giun, còn bầy gà con thì chạy nhảy từ nơi này nơi 
khác. Đến gần trưa Gà mẹ kiếm được nhiều mồi liền gọi bầy gà con đến ăn, Gà 
mẹ đếm “Ồ sao chỉ còn 4 gà con?, Gà út đi đâu rồi nhỉ? Điều gì đã xảy ra với Gà 
út?” các con hãy kể tiếp câu chuyện cho cô nghe với nào?
 6. Phối hợp với phụ huynh:
 Để việc giáo dục đem lại hiệu quả, công tác phối hợp với phụ huynh 
đóng một vai trò hết sức quan trọng. Qua những lúc đón, trả trẻ, những buổi họp 
phụ huynh, tôi luôn trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của việc phát triển 
ngôn ngữ cho trẻ. Mời phụ huynh dự những giờ dạy trẻ làm quen văn học từ đó 
nâng cao nhận thức của phụ huynh. Hiểu được ý nghĩa của môn học, phụ huynh 
sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất nhằm bồi dưỡng thêm cho trẻ ở nhà. Ở góc tuyên 
truyền “Những điều cha mẹ cần biết”, tôi dành riêng một mảng để tuyên truyền 
với phụ huynh những nội dung của giờ học. Trao đổi về đặc điểm ngôn ngữ của 
trẻ, những bài thơ, câu truyện trong chủ đề, chủ điểm với phụ huynh. Để giúp trẻ 
phát triển tốt hơn nữa, tôi đã vận động phụ huynh mua thêm sách báo, truyện 12
tranh đọc cho trẻ nghe ở nhà, tập cho trẻ kể chuyện, đọc thơ, đóng kịch để giúp 
trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc được tốt hơn.
V. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
 Qua quá trình thực hiện và áp dụng biện pháp trên, tôi đã thu được 
những kết quả đáng phấn khởi so với đầu năm học.
 * Đối với trẻ: Chất lượng môn làm quen văn học tăng lên rõ rệt: Tỷ lệ 
khá giỏi đạt 85%, trẻ trả lời rõ ràng, mạch lạc, nói trọn câu. Nhiều trẻ biết kể 
chuyện diễn cảm, biết thể hiện điệu bộ cử chỉ khi kể chuyện, đọc thơ, 75% trẻ 
biết kể chuyện sáng tạo, 90% trẻ hiểu được nội dung câu chuyện. Trẻ thích chơi 
đóng kịch, đóng vai theo chủ đề, trẻ nhập vai, thể hiện vai các nhân vật trong 
câu chuyện rất tốt.
 * Đối với giáo viên: Giáo viên đã nắm chắc phương pháp, tự tin, linh 
hoạt hơn trong các tiết dạy. Bản thân cũng đã biết lập kế hoạch thực hiện phù 
hợp với nhóm tuổi mình phụ trách, nắm vững được đặc điểm tâm lý, tình hình 
của từng trẻ để từ đó đưa ra những biện pháp có phương hướng giáo dục trẻ 
thích hợp hơn.
 * Đối với phụ huynh: Từ những kết quả đạt được trên, bản thân tôi đã 
tạo được lòng tin với phụ huynh, làm cho phụ huynh càng tin tưởng, yên tâm 
đưa con đến trường. Qua đó bản thân cũng đã nâng cao nhận thức cho phụ 
huynh về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là rất cần thiết. Phụ huynh 
rất quan tâm, phấn khởi, thường xuyên chăm lo, trao đổi hỏi thăm học lực của 
con mình.
VI. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
 Qua việc thực hiện đề tài “Một số biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi phát 
triển ngôn ngữ mạch lạc thông qua hoạt động làm quen văn học”, bản thân tôi đã 
rút ra một số kinh nghiệm sau:
 1. Phải nắm vững đặc điểm tâm lý trẻ, để có phương pháp đúng cho từng 
trẻ.
 2. Xây dựng kế hoạch thực hiện phải hợp lý, đầy đủ, chi tiết. 13
 3. Cần chuẩn bị đầy đủ giáo cụ trực quan để lôi cuốn trẻ vào vấn đề, giúp 
trẻ nắm được vấn đề đó một cách dễ dàng hơn.
 4. Tăng cường cho trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động làm quen văn 
học như kể chuyện, đọc thơ, đóng kịch, đóng vai theo chủ đề, nghe băng đĩa, 
máy chiếu, xem sách báo 
 5. Kết hợp chặt chẻ với phụ huynh để giúp phụ huynh nhận thức được 
tầm quan trọng của môn học. Từ đó phụ huynh tạo mọi điều kiện tốt nhất để 
giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
 6. Giáo viên cần phải nắm chắc phương pháp, khả năng nhận thức của 
trẻ. Nghiên cứu, tìm tòi vận dụng các phương pháp hữu hiệu vào hoạt động phát 
triển ngôn ngữ để đạt được kết quả cao trong dạy trẻ.
 7. Giáo viên phải thực sự thương yêu và tôn trọng trẻ, phải biết kiềm 
chế, kiên trì nhẫn nại, lấy tình cảm làm yếu tố quan trọng nhất để giáo dục trẻ. 14
 C. KẾT LUẬN.
 Ngôn ngữ đóng một vai trò rất quan trọng, sự chậm trễ về ngôn ngữ 
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Cho nên việc phát triển ngôn 
ngữ cho trẻ đúng lúc và phù hợp với từng lứa tuổi là điều hết sức cần thiết. Phát 
triển ngôn ngữ mạch lạc là cái đích cuối cùng của việc phát triển ngôn ngữ cho 
trẻ.
Đây là việc làm không phải dễ nhưng đầy lý thú. Vì vậy để trẻ đạt hiệu quả cao 
thì giáo viên cần tổ chức hoạt động này một cách khéo léo, nhằm phát triển tư 
duy, trí tưởng tượng cũng như năng lực sử dụng ngôn ngữ cho trẻ. Dạy trẻ phát 
triển ngôn ngữ cũng là dạy trẻ biết giao tiếp, cũng là dạy trẻ học làm người. 
Không chỉ về ngôn từ, cấu trúc câu mà cả học về cái tâm, cái tình, cái hồn, hay 
nói cách khác là học giá trị của người đó. Với trẻ thơ thì đây là sự khởi đầu.
 HIỆU TRƯỞNG Người Viết 
 Vũ Thị Tuyết Minh Lã Thị Minh Phương 15
 MỤC LỤC
A . MỞ ĐẦU.........................................................................................................2
B. NỘI DUNG.......................................................................................................3
I. CƠ SỞ KHOA HỌC..........................................................................................3
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN. .......................................................................................3
III. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH..........................................................................4
IV. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN..............................................................................5
 1. Tìm hiểu đặc điểm, tình hình nhận thức của trẻ:............................................5
 2. Xây dựng kế hoạch:........................................................................................5
 3. Chuẩn bị các dụng cụ trực quan đầy đủ, đẹp, sáng tạo: .................................6
 4. Dạy trẻ ngôn ngữ đối thoại:............................................................................7
 5. Dạy trẻ ngôn ngữ đọc thoại:...........................................................................9
 6. Phối hợp với phụ huynh: ..............................................................................11
V. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.................................................................................12
VI. BÀI HỌC KINH NGHIỆM. .........................................................................12
C. KẾT LUẬN. ...................................................................................................14

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_tre_3_4_tuoi_pha.docx