Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi của lớp Lá 3 trường Mầm non Cam Thượng
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi của lớp Lá 3 trường Mầm non Cam Thượng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi của lớp Lá 3 trường Mầm non Cam Thượng
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Đặt vấn đề “Trẻ em như búp trên cành Biết ăn biết ngủ biết học hành là ngoan” Giáo dục mầm non là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, là tiền đề cho sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể mỹ của con người. Sự phát triển của con người bắt đầu từ những ngày thơ ấu; đây là điểm nút góp phần hình thành nhân cách cho trẻ. Do vậy, bậc học mầm non phải có nhiệm vụ phát triển toàn diện về mọi mặt; trong đó rèn kỹ năng sống là một việc cần thiết. Bác Hồ nói “Không có giáo dục thì không nói gì đến kinh tế văn hóa”. Sản phẩm của giáo dục là con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước trong tươn lai đó chính là thế hệ trẻ. Trong những năm gần đây, giáo dục luôn không ngừng đổi mới về hình thức, nội dung và phương pháp tổ chức dạy học cho trẻ. Giáo dục kỹ năng sống là nội dung được rất nhiều người quan tâm. Đặc biệt giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non là một nội dung và nhiệm vụ quan trọng của cấp học mầm non. Vậy kỹ năng sống là gì? Đã bao giờ bạn tự hỏi mình câu hỏi này chưa? Đã bao giờ bạn thấy tự tin trước cuộc sống với những kỹ năng mà bạn có được chưa? Khi bạn lưỡng lự trả lời những câu hỏi này thì cũng có nghĩa là bạn đang nghi ngờ vào những kỹ năng mà bạn đang có. Kỹ năng sống cần thiết cho tất cả mọi người. Muốn có được kỹ năng sống thì phải trải qua một quá trình rèn luyện lâu dài và nó được bắt đầu ngay từ lứa tuổi mầm non - lứa tuổi mà được xem như tờ giấy trắng. Thực tế kết quả của nhiều nhà nghiên cứu đều cho thấy các kỹ năng quan trọng nhất trẻ phải học ở lứa tuổi mầm non chính là những kỹ năng sống như: Sự hợp tác, tự kiểm soát, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Với xã hội hiện nay có rất nhiều người, nhiều bậc cha mẹ học sinh chưa hiểu hết được ý nghĩa của việc dạy kỹ năng sống cho trẻ, cha mẹ học sinh luôn che chở, làm giúp trẻ mọi việc vì họ nghĩ con mình còn nhỏ chưa tự làm được những việc đó. Họ đâu biết rằng chính những suy nghĩ và việc làm của các bậc cha mẹ đã tước đi quyền tự do của con, trẻ thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động... Hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu thiếu kỹ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, và lối sống ích kĩ lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Rèn dạy kỹ năng sống chủ yếu chỉ dành cho người lớn. Nhưng đối với trẻ ở lứa tuổi tập nói, dạy lễ giáo đạo đức ban đầu cho các cháu ở trường mầm non là rất quan trọng trong việc hình thành thói quen và nhân cách của bé sau này. Thực tế từ các trường cho thấy, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thường được thực hiện bằng cách cho trẻ xem tranh truyện, tổ chức hội thi: “Bé khỏe, bé ngoan” có giáo viên, cha mẹ và trẻ cùng tham gia thi hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống để khơi dậy lòng nhân ái trong trẻ, giúp trẻ có được những kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp ứng xử. Là giáo viên mầm non phụ trách lớp mẫu giáo 5-6 tuổi, nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống đối với sự phát triển của trẻ, tôi đã suy nghĩ làm thế nào để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi có hiệu quả. Các phương pháp cổ điển như bài giảng đi theo những chuẩn mực, cô hỏi - trẻ chủ động trả lời sẽ hoàn toàn thất bại vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin và nhận thức đến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn. Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau. Tuy nhiên trên thực tế nơi tôi đang giảng dạy, phần lớn phụ huynh là lao động chân tay như làm nghề nông, nghề tự do, một số khác thì làm công nhân, một số phụ huynh chưa chú ý, chưa quan tâm đến việc dạy kỹ năng sống cho trẻ. Ở trường, giáo viên chủ yếu đi sâu truyền thụ những kiến thức cho trẻ qua các giờ học, ít chú trọng đến việc rèn các kỹ năng sống cho trẻ, nên hầu hết trẻ chưa có vốn kiến thức về kỹ năng sống. Chính vì vậy, tôi đã chọn thực hiện đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi của lớp Lá 3 trường Mầm non Cam thượng.” nhằm giúp cho trẻ làm chủ bản thân, ứng xử phù hợp với cộng đồng và xã hội, học tập hiệu quả, nâng cao sức khỏe, ứng xử tốt trong các tình huống của cuộc sống. 2. Mục đích đề tài Dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non là nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ phải hết sức đơn giản và gần gũi với trẻ. Chúng ta dạy kỹ năng sống cho trẻ chính là chúng ta dạy trẻ biết sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Trẻ học cách có được những mối liên hệ mật thiết với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt được ý của mình trong nhóm bạn. Và điều quan trọng mà chúng ta mong muốn sẽ là giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới qua việc phát triển các kĩ năng cho trẻ. Nếu chỉ suy ngẫm và trò chuyện thôi thì chưa đủ, cần có các kĩ năng ứng dụng vào thực tế. Trẻ cần được trải nghiệm, hiểu kết quả của hành vi ứng xử và muốn chủ động đưa ra những quyết định có sức ảnh hưởng lớn. Trong thực tế ở trường mầm non trẻ thích làm theo ý muốn nhưng kinh nghiệm và kỹ năng sống của trẻ còn quá ít để trẻ thực hiện những mong muốn đó. Hơn thế nữa trong độ tuổi 5- 6 tuổi trẻ được cha mẹ thường bao bọc, nuông chiều trẻ một cách thái quá, làm hộ trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích kỉ, không quan tâm đến người khác và các kĩ năng trong cuộc sống rất hạn chế, gây khó khăn cho trẻ trong việc có tình huống bất ngờ xảy ra. Vì vậy, một số trẻ còn hạn chế trong các kỹ năng sống cơ bản hàng ngày. Một số trẻ rất thụ động khi có những tình huống xảy ra. Chính vì vậy, việc rèn kỹ năng sống cho trẻ là một việc làm hết sức cần thiết giúp trẻ có những kỹ năng cơ bản trong cuộc sống. Hơn ai hết, người giáo viên có tầm quan trọng rất lớn trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ, cùng với gia đình giúp trẻ có những kỹ năng cơ bản trong cuộc sống. Vì vậy dạy kỹ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống của người lớn nhằm giúp cho trẻ có những kỹ năng đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Trẻ biết vận dụng, biến những kiến thức của mình để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống cho phù hợp. Muốn như vậy, người lớn phải tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thực hành. Chính vì vậy tôi đã tôi quyết định tìm và đưa ra: “Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi của lớp Lá 3 trường Mầm non Cam Thượng”. 3. Lịch sử đề tài Đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi của lớp Lá 3 trường Mầm non Cam Thượng.” tôi nghiên cứu và thực hiện trong đầu năm học này vì hiện nay vấn đề dạy kỹ năng sống cho trẻ đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước các ngành, các cấp và của toàn xã hội, đặc biệt lứa tuổi mầm non là những nhân tài tương lai của đất nước, nó ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của đứa trẻ 4. Phạm vi đề tài Đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi của lớp Lá 3 trường Mầm non Cam Thượng.” được nghiên cứu áp dụng đối với trẻ lớp Lá 3 của trường Mầm Non Cam Thượng, Huyện Ba Vì, TP. Hà Nội do tôi đang phụ trách để thực nghiệm và kiểm chứng các biện pháp của đề tài. II. NỘI DUNG CÔNG VIỆC 1. Thực trạng Năm học 2021 – 2022 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp Lá 3 với tổng số học sinh là 27 cháu, trong đó 15 cháu nam và 12 cháu nữ. Trong quá trình thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tôi nhận thấy có một số thuận lợi và khó khăn sau: 1.1. Thuận lợi Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, phát tài liệu, băng đĩa để giáo viên tham khảo; Trang bị cho các lớp máy tính, tivi, loa đài ; Sân trường rộng, thoáng mát, sạch sẽ có khu vui chơi cho trẻ. Hướng dẫn làm các tranh ảnh thể hiện được một số kỹ năng sống cần thiết cho trẻ để trẻ được làm quen ở mọi lúc mọi nơi. Phòng học tương đối rộng, thoáng và đầy đủ điều kiện để hoạt động. Trường luôn coi trọng việc trang trí những hình ảnh phong phú, hấp dẫn để lôi cuốn trẻ. Giáo viên hiểu được hoàn cảnh và điều kiện sống của trẻ ở gia đình để có biện pháp giáo dục phù hợp. Bản thân tôi có trình độ trên chuẩn, đã có nhiều năm phụ trách lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi nên có một số kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động dạy trẻ; Là một giáo viên trẻ, có tinh thần trách nhiệm nhiệt tình trong mọi phong trào. Trẻ cùng một độ tuổi, trẻ đi học đều, tích cực tham gia các hoạt động. Đa số phụ huynh quan tâm đến trẻ, trao đổi với giáo viên cách để dạy trẻ tốt hơn. 1.2. Khó khăn Các cháu tuy cùng độ tuổi nhưng khả năng tiếp thu của trẻ không đồng đều. Một số gia đình khá giả có điều kiện thì việc bao bọc, nuông chiều con em mình quá mức dẫn đến việc tự lập của trẻ gặp nhiều khó khăn. Một số trẻ hiếu động, còn chưa chú ý và chưa nghe theo lời hướng dẫn của cô giáo; Một số trẻ hiếu động, chưa biết đoàn kết khi chơi với bạn. Một số phụ huynh chưa hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ. Từ những thuận lợi và khó khăn trong quá trı̀nh thực hiện, tôi đã suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tạo điều kiện thuận lợi giúp cha me ̣ dạy trẻ mầm non các kỹ năng sống qua đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi của lớp Lá 3 trường Mầm non Cam Thượng”. BẢNG KHẢO SÁT TRẺ ĐẦU NĂM Các nhóm kỹ năng sống cần Số trẻ chưa đạt STT thiết Số trẻ đạt/ sỉ số Tỉ lệ % 1 Kỹ năng tự phục vụ 10/27 37 2 Kỹ năng tự bảo vệ 8/27 29.6 3 Kỹ năng hợp tác 8/27 29.6 4 Kỹ năng giao tiếp- ứng xử 10/27 37 5 Kỹ năng tự tin 9/27 33.3 2. Nội dung cần giải quyết Từ những thực tiễn tôi đã nghiên cứu tìm ra và lựa chọn một số biện pháp áp dụng hiệu quả trong việc giúp trẻ 5 – 6 tuổi rèn kỹ năng sống tại lớp Lá 3 Trường Mầm Non Cam Thượng: 2.1 Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5- 6 tuổi 2.2 Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ theo từng chủ đề. 2.3 Nội dung những kỹ năng cần đưa vào dạy trẻ. 2.4 Lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các hoạt động học. 2.5 Dạy kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc mọi nơi. 2.6 Biện pháp giúp trẻ phát triển các kỹ năng sống qua việc tổ chức các hoạt động tập thể vui chơi, lành mạnh trong nhà trường. 2.7 Phối hợp với phụ huynh trong việc rèn kỹ năng sống. 3. Các biện pháp thực hiện 3.1 Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5- 6 tuổi Đặc điểm về sự phát triển cảm xúc và tình cảm: Đặc điểm tâm lý trẻ 5 - 6 tuổi phát triển ổn định hơn so với các giai đoạn trước. Theo mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh, sự phong phú và phức tạp sẽ tăng lên. Các sắc thái tình cảm của con người liên quan đến các nhóm tuổi và địa vị xã hội khác nhau được hình thành như sau: quan hệ mẹ con, ông bà, anh chị em, thầy cô và những người khác, bạn bè, người lạ ... Đặc điểm tâm lý trẻ 5 - 6 tuổi về mặt cảm xúc và trí tuệ: trí thông minh và cảm xúc của trẻ được phát triển và mọi nhận thức mới đều kích thích trẻ vui vẻ, hứng thú và say mê; tính tò mò tạo ra nhiều cảm xúc tích cực; trong trò chơi, học tập và tự phục vụ, những sự thành công và thất bại là sức mạnh để trẻ phát triển tình cảm và trí tuệ. Đặc điểm tâm lý trẻ 5 - 6 tuổi về mặt đạo đức: Bằng cách hiểu ý nghĩa của các chuẩn mực hành vi tốt và xấu. Giao tiếp với mọi người thông qua niềm vui; do gia đình, nhà trẻ xây dựng những thói quen sinh hoạt tốt ... Trẻ biết cần có nhiều hành vi tốt để làm hài lòng mọi người. Đặc điểm tâm lý trẻ mẫu giáo lớn có nhiều sự trưởng thành về tâm sinh lý, nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ, trí lực giúp trẻ bước đầu thích nghi với điều kiện học tập của lớp 1. Việc chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1 là tiền đề và là yếu tố của việc chuẩn bị các hoạt động học tập, để trẻ có thể thích nghi tốt nhất và nhanh nhất với việc học vào lớp 1. Có hai khía cạnh cần được chuẩn bị: Chuẩn bị về thể chất: Đảm bảo trẻ khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, mềm mại, linh hoạt, phối hợp được các vận động cơ bản. Chuẩn bị tâm lý: tò mò, trí tưởng tượng, khả năng tập trung, trí nhớ, tư duy ... Chuẩn bị một số nét tính cách: một số nét tính cách (tính chủ động, độc lập, kiên trì ...), một số nét tính cách thể hiện thái độ đối với xã hội, lòng tự trọng, tự đánh giá, tinh thần hợp tác ...) Chuẩn bị đặc biệt: Là sự chuẩn bị về năng lực và phẩm chất đặc biệt trực tiếp giúp trẻ thích ứng dễ dàng và nhanh chóng với lớp học đầu tiên và tham gia các môn học. Việc chuẩn bị tốt các nội dung trên sẽ giúp trẻ nhanh chóng thích nghi, thích ứng trường học. 3.2 Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ theo từng chủ đề Trong thực tế có rất nhiều kỹ năng sống khác nhau, khó có thể liệt kê một cách đầy đủ những kỹ năng con người cần có trong cuộc sống. Chính vì vậy vào đầu năm học tôi cùng các giáo viên trong tổ lên kế hoạch lựa chọn các kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi mẫu giáo 5 – 6 tuổi để đưa vào dạy trẻ nhằm đạt hiệu quả cao. KNS tự KNS tự KNS tự KNS hợp KNS ứng STT Tháng phục vụ bảo vệ tin tác xử. Tự rửa tay trước và sau Mạnh Chơi an Phối hợp Biết chào khi ăn. dạn khi Tháng toàn với với bạn cô, chào bố Tự lấy cất đến nơi 1 9 đồ chơi trong khi mẹ, chào đồ dùng đồ đông ngoài trời. chơi . các bạn. chơi sau khi người. chơi. Phòng tránh 1 số nguy hiểm Đánh răng đối với Cảm ơn Đoàn kết vào buổi bản thân Không đi khi được Tháng 9 với bạn 2 sáng và (Ổ điện, theo giúp đỡ, +10 trong khi buổi tối sau nước người lạ xin lỗi khi chơi. khi ăn. nóng, dao, mắc lỗi. những dồ vật sắc nhọn). Tự lựa chọn Tránh xa Trẻ tự tin Quan tâm Giúp bố Tháng quần áo phù 1 số đồ khi tham tới bố mẹ mẹ những 3 10 + 11 hợp với dùng gây gia biểu và người công việc thời tiết. mất an diễn thân khi vừa sức. toàn trong bị mệt, bị gia đình: ốm. Ổ điện, bàn là, bếp ga. Không lại gần, không Giúp đỡ Yêu quý, Nói với nghịch đồ Lớn lên Bố mẹ trân trọng Tháng người lớn dùng của bé thích 4 những mọi nghề 11+ 12 khi bị mệt, một số làm nghề công việc trong xã bị đau ốm. nghề gì? vừa sức. hội. ( Liềm, cuốc,búa đinh ). Cách Phân Cách bảo Cách xử lý Giúp bố phòng nhóm vệ các con Tháng khi bị muỗi mẹ chăm 5 tránh 1 số động vật vật nuôi 12 + 01 , côn trùng sóc vật con vật hung dữ, trong gia đốt nuôi. hung dữ. hiền lành. đình. Ăn quả Khi ai cho xong biết Để đảm gì phải biết bỏ vỏ vào Bé và các bảo an Bé giúp xin và cảm thùng rác. bạn chăm Tháng toàn cô chăm ơn khi 6 Lựa chọn sóc cây 2 không sóc cây. nhận. trang phục xanh. trèo cây Nói năng khi đi chơi bé nhé. lễ phép với tết. người lớn Đeo khẩu trang, đeo Cách đội kính khi, Thể hiện Bé thực Bé giúp mũ bảo đội mũ để vai chú hiện đúng Tháng mẹ đội 7 hiểm đảm đảm bảo cảnh sát theo tín 03 mũ bảo bảo an an toàn giao hiệu đèn hiểm toàn.. khi tham thông giao thông. gia giao thông. Rót nước vừa phải Lựa chọn Bé không Khi thấy khi uống, Tháng trang phục chơi gần trời mưa 8 khóa vòi 4 phù hợp nơi có ao, to, sấm nước sau theo mùa. hồ. chớp. khi dùng xong. Đội mũ, Bé cùng mặc trang An toàn bố mẹ Tháng 9 phục phù khi đi du chuẩn bị 5 hợp khi đi lịch. đồ khi đi nắng. thamquan Mạnh Chào hỏi Cất gọn An toàn dạng khi khi gặp Tháng gàng đồ khi đi khi 10 vào môi người lớn, 6 dùng học đi đến trường khách đén tập vào cặp. trường lớp 1. lớp. 3.3. Nội dung những kỹ năng cần đưa vào dạy trẻ 3.3.1 Kỹ năng sống tự tin: Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin, mạnh dạn, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn tự tin mạnh dạn, trong mọi tình huống, mọi lúc mọi nơi. Ví dụ: Cô tổ chức trẻ tham gia chương trình “Người dẫn chương trình” Mục đích: Giúp trẻ mạnh dạn tự tin trong giao tiếp. Chuẩn bị: Micro, hoa Tiến hành: Cho trẻ lên đóng vai làm những thí sinh giới thiệu về tên, tuổi, địa chỉ nhà, sở thích của bản thân, các thành viên trong gia đình Cô gợi ý và khuyến khích những trẻ nhút nhát tham gia, bạn nào làm tốt cô sẽ thưởng cho một bông hoa. 3.3.2 Kỹ năng sống hợp tác Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối với trẻ lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn Ví dụ: Góc tạo hình, khi làm bức tranh xé dán tặng các chú bộ đội nhân ngày 22/12: Trẻ biết phân công ai là người xé các bông hoa, ai là người xé những chiếc lá, ai là người sắp xếp và dán thành bức tranh. 3.3.3 Kỹ năng bơi lội Bơi lội là một trong các kỹ năng sống cho trẻ mầm non được các bố mẹ quan tâm khi nuôi dạy con. Kỹ năng này không những hỗ trợ phát triển thể chất mà còn giúp tăng khả năng sinh tồn cho bé. Đồng thời, khi tiếp xúc với bộ môn bơi lội, bé sẽ có cơ hội làm quen với môi trường mới, tạo sự thích thú, tăng khả năng sáng tạo trong học tập. Vì thế, các bố mẹ hãy dành thời gian để đưa con đi bơi mỗi tuần nhé (Hình minh họa 8 trang 35). 3.3.4. Kỹ năng sắp xếp đồ đạc Dạy cho trẻ kỹ năng sắp xếp đồ đạc sẽ xây dựng cho bé thói quen chỉn chu, ngăn nắp cho con sau này. Để phát triển kỹ năng này cho bé, phụ huynh có thể bắt đầu bằng việc dạy bé sắp xếp quần áo. Lưu ý, trong quá trình chỉ dạy, phụ huynh nên làm bạn đồng hành cùng con để tăng cảm giác hào hứng. Kỹ năng sống cho trẻ mầm non này sẽ giúp các bé tự biết chăm sóc bản thân mình mỗi khi không có bố mẹ ở bên. 3.3.5 Kỹ năng vượt qua khó khăn, thử thách Trong suy nghĩ của mỗi trẻ, bố mẹ là người không thể thiếu, là người giúp bé vượt qua các khó khăn, thử thách. Để giúp trẻ có thể tự lập, hòa nhập với môi trường mới thì các bố mẹ nên dạy cho trẻ kỹ năng vượt qua khi gặp các trở ngại. Các phụ huynh nên bắt đầu bằng các việc như tạo cho trẻ thói quen tự đứng dậy sau khi vấp ngã, để cho trẻ tự giải quyết trước khi hướng dẫn cho trẻ mỗi khi gặp trở ngại... Các thói quen nhỏ này sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển của trẻ sau này. 3.3.6 Kỹ năng trồng cây và chăm sóc động vật Một kỹ năng sống cho trẻ mầm non cần thiết khác chính là trồng cây và chăm sóc động vật. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra việc biết yêu thương động vật và thiên nhiên sẽ khiến cho tâm hồn và tính cách của bé trở nên tươi đẹp hơn. Từ đó góp phần giúp trẻ hình thành những cảm xúc tích cực, khả năng tư duy và tấm lòng biết quan tâm đến mọi việc xung quanh. 3.3.7 Kỹ năng tự phục vụ: Kỹ năng tự phục vụ là một yếu tố quan trọng có thể giúp tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công. Dạy cho trẻ biết các kỹ năng tự phục vụ, trẻ ý thức được sự cần thiết của việc tự phục vụ bản thân, tăng cường tính độc lập, trẻ có trách nhiệm sống hơn đối với chính mình, dạy trẻ biết quan sát làm theo hướng dẫn của người lớn trong các công việc nhỏ hàng ngày như: vệ sinh cá nhân, tự rửa tay, rửa mặt, đánh răng, cất, lấy đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định, mặc áo, cởi cúc áo, tự xúc ăn . Trong những kỹ năng về chăm sóc bản thân tôi lựa chọn một số những kỹ năng cơ bản sau để dạy trẻ: Kỹ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng tự mặc quần áo, kỹ năng tự chăm lo vệ sinh cá nhân. Kỹ năng tự xúc ăn: Trẻ ở độ tuổi này có khả năng tự xúc ăn, tuy nhiên có nhiều trẻ khi ăn xúc cơm còn rơi vãi, có trẻ không tự xúc mà chỉ đợi cô xúc cho thì mới ăn. Chính vì vậy trước khi vào giờ ăn tôi thường kể cho trẻ nghe một số câu chuyện do tôi sưu tầm có nội dung liên quan đến việc tự xúc cơm ăn, sau đó gợi hỏi trẻ: Bạn nhỏ trong câu chuyện có ngoan không? Vì sao lại chưa ngoan? Sau đó cô giáo dục trẻ: các con lớn rồi phải tự xúc ăn thì mới ngoan, nếu bạn nào không tự xúc cơm ăn thì các em lớp bé sẽ cười chúng mình đấy! Kỹ năng tự mặc áo, cởi áo, gấp quần áo: Hàng ngày, trước khi đi ngủ trẻ phải thay quần áo, trẻ thường để quần áo lộn xộn dẫn đến việc giáo viên mất rất nhiều thời gian để gấp quần áo cho trẻ. Chính vì vậy vào giờ hoạt động góc, hoạt động chiều tôi đã dạy cho trẻ kỹ năng gấp quần, áo, cách cởi áo, mặc áo. Để việc dạy trẻ có hiệu quả, ở góc kỹ năng tôi làm một số bộ sách về kỹ năng cho trẻ được tập luyện: Tập cài cúc áo, cởi cúc áo, mặc áo, gấp áo, kéo khóa để từ đó trẻ có thể ứng dụng vào thực tế đạt hiệu quả cao. Kỹ năng chăm lo vệ sinh cá nhân: Vệ sinh cá nhân là một việc làm không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của trẻ. Vệ sinh cá nhân bao gồm: Rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải đầu.. Những việc làm này được tôi thực hiện dạy trẻ một cách thường xuyên. Dạy trẻ rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn, rèn cho trẻ biết tự rửa tay dưới vòi nước bằng xà phòng đúng quy trình, đúng thao tác.( Hình minh họa 3 trang 33) Với những kỹ năng này người lớn đặc biệt là bố mẹ trẻ sẽ yên tâm hơn về trẻ. Trẻ sẽ dần có thói quen về vệ sinh cá nhân sạch sẽ, gọn gàng, biết tự lựa chọn và mặc những trang phục phù hợp với thời tiết để bảo vệ sức khỏe cho chính mình. Không chỉ dừng lại ở đó mà những kỹ năng này còn giúp trẻ khéo léo hơn, có ý thức và có tính kiên trì, làm việc một cách chủ đích hơn. 3.3.4 Kỹ năng tự bảo vệ Xã hội hiện đại mang đến cho cuộc sống con người nhiều tiện ích, sự thoải mái nhưng cũng tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm, đặc biệt là đối với con trẻ. Điều này đòi hỏi mỗi trẻ đều phải có những kỹ năng để xử lý cũng như bảo vệ chính bản thân mình. Bất cứ một sự vật nào hiện ra đều trở thành một đề tài thu hút đối với trẻ. Đó được coi là cơ hội để mở rộng kiến thức nhưng đồng thời cũng có thể là mối nguy hại khôn lường đối với trẻ. Việc trang bị cho trẻ những kỹ năng bảo vệ bản thân sẽ giúp trẻ có thể an toàn hơn và tự tin hơn để khám phá cuộc sống muôn màu. Kỹ năng bảo vệ bản thân là những hiểu biết của một người về những sự việc xung quanh mình cũng như cách để hành động đúng, an toàn đối với sự vật đó. Trẻ có kỹ năng bảo vệ bản thân sẽ biết cách làm thế nào để tránh xa những mối nguy hiểm hoặc khám phá thế giới trong phạm vi an toàn. Trên thực tế, trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo 5 – 6 tuổi hầu hết trẻ chưa phân biệt được những gì là nguy hiểm hay không nguy hiểm đối với mình. Chính vì vậy nên việc giúp trẻ phân biệt những mối nguy hiểm luôn được tôi quan tâm, lồng ghép vào để giáo dục trẻ qua những câu chuyện, qua hoạt động học, qua tranh ảnh, video Để việc giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ được tốt, tôi đã lựa chọn ra những mối nguy hiểm thường xảy ra trong cuốc sống hàng ngày đối với trẻ để lồng ghép vào các thời điểm trong ngày cho thích hợp. Cụ thể: Các mối nguy hiểm trong gia đình, trường học: Ổ điện, quạt điện, bếp ga, phích nước nóng, bàn là tôi sẽ lồng vào hoạt động khám phá để dạy trẻ. Tôi cho trẻ kể tên về những đồ dùng trong gia đình nhà mình, sau đó cho trẻ xem tranh về những đồ dùng đó, hỏi trẻ xem những đồ dùng này các con có được sử dụng không? Vì sao? Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc hỏi trẻ những câu hỏi như vậy sau đó cô giáo dục trẻ không được lại gần, không được sử dụng những đồ dùng đó thì trẻ sẽ rất mau quên. Chính vì vậy ngoài việc giáo dục trẻ biết được mối nguy hiểm của những đồ dùng đó sau khi trẻ được khám phá về đồ dùng gia đình tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi trên màn hình các trò chơi: “Loại bỏ những đồ dùng gây nguy hiểm cho trẻ”, hay trò chơi “Hãy gạch chéo vào đồ dùng mà bé không được sử dụng” - Các mối nguy hiểm ngoài xã hội: bắt cóc, lạc đường, những nơi nguy hiểm gần ao hồ, cột điện, nơi công trường đang thi công với những mối nguy hiểm này tôi sẽ truyền đạt cho trẻ bằng các câu hỏi tình huống, cho trẻ xem những đoạn video cô và trẻ cùng nhau thảo luận đẻ trẻ hiểu được đó là những mối nguy hiểm mà cần phái tránh xa. Ví dụ: Tôi sẽ đưa ra tình huống như: Nếu có người lạ cho con ăn kẹo thì con làm như thế nào? Cho trẻ suy nghĩ, cho trẻ đưa ra ý kiến của mình, gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi. Ở tình huống này, với lứa tuổi của trẻ mẫu giáo trẻ rất thích khi được cho quà bánh và sẽ không biết tại sao không được nhận. Khi trẻ thảo luận, tôi đưa ra những giả thiết, những tình huống xấu “Nếu đó là kẻ xấu thì sẽ rất nguy hiểm cho bé”. Tôi phân tích, giải thích cho trẻ và giúp trẻ có phương án giải quyết đó là: Không nhận quà, ăn bánh kẹo của người lạ vì có thể bị người xấu bắt cóc. Tôi sẽ dạy trẻ nói “Cháu cám ơn, nhưng bố mẹ cháu không cho nhận quà của người lạ”. Bên cạnh đó, kỹ năng tự bảo vệ bản thân là thật sự cần thiết dạy cho con trẻ, xã hội đang phát triển đồng nghĩa với những tệ nạn xã hội ngày một nhiều, trang bị cho trẻ những kỹ năng tự bảo vệ bản thân chính là trang bị cho trẻ những hành trang để trẻ có thể sống an toàn, lành mạnh hơn. Với trẻ mầm non, kỹ năng sống chưa có một giáo trình nào cụ thể, chưa được đưa vào như một giờ học chính nên chúng ta cần khéo léo lồng ghép vào các hoạt động trong ngày, vào các chủ đề, vào các thời điểm trong ngày: Trò chuyện sáng, hoạt động ngoài trời, hoạt động học, các bài tập trắc nghiệm, hoạt động chiều Trang bị cho trẻ những kỹ năng này sẽ giúp trẻ cảm thấy tự tin, luôn sẵn sàng đối diện và vượt qua các mối nguy hiểm trong cuộc sống. 3.3.5. Kỹ năng giao tiếp ứng xử Giáo viên cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung quanh nó. Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ. Nó có vị trí chính yếu khi so với tất cả các kỹ năng khác như đọc, viết, làm toán và nghiên cứu khoa học. Nếu trẻ cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay chính kiến nào đó, trẻ sẽ trở nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp trẻ sẵn sàng học mọi thứ. Cách giao tiếp ứng xử không chỉ quan trọng trong những năm trẻ đi học mà còn rất quan trọng đối với cuộc sống sau này của trẻ. Kỹ năng giao tiếp là một kỹ năng nền tảng giúp trẻ nhận biết các giá trị sống và hình thành các kỹ năng sống. Trẻ giao tiếp ra sao là hoàn toàn do chúng ta dạy dỗ, bởi trẻ hay bắt chước, chưa hiểu hết được các từ ngữ. Trẻ của lớp tôi sống ở vùng nông thôn nên bị ảnh hưởng rất nhiều những từ ngữ không lành mạnh từ phía người lớn hay từ phía các anh chị lớn tuổi hơn. Để giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt tôi đã tiến hành dạy trẻ qua các hình thức sau: Kỹ năng giao tiếp với bạn bè: Lớp học chính là một thế giới thu nhỏ của xã hội mà hàng ngày trẻ được tiếp xúc, là nơi đa văn hóa, đa tính cách và cũng là nơi đa sở thích. Chính vì vậy cô có thể dạy trẻ tìm hiểu, khám phá những sở thích của chính bản thân, quan tâm đến bạn bè.. Trong lớp tôi mỗi trẻ lại có tính cách khác nhau, có những trẻ hoạt bát nhanh nhẹn, hiếu động nhưng có những trẻ chậm chạp, thụ động hoặc nóng nảy. Chính vì vậy, tôi đã tìm hiểu tính cách của từng trẻ trong lớp để thuận tiện cho việc dạy và rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Việc rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ thường thể hiện rõ nhất ở giờ hoạt động góc và nhất là góc chơi phân vai, vì ở góc chơi phân vai trẻ được chơi đóng vai các nhận vật như: vai cha, mẹ, con người bán hàng, cô cấp dưỡng mà những vai đó cần thể hiện bằng lời nói. Ví dụ: Khi trẻ chơi trò chơi “Bán hàng”, người bán hàng khi thấy có khách đến mua thì phải niềm nở, dùng ngôn ngữ của mình để trả lời khách, dùng ngôn ngữ của mình để mời chào khách, còn trẻ đóng vai người mua hàng sẽ phải về giá cả các mặt hàng như thế nào? Hoặc khi chơi trò chơi “Phòng khám đa khoa”, trẻ đóng vai bác sĩ khi khám cho bệnh nhân, hỏi xem bệnh nhân bị bệnh gì? Bị đau ở đâu? Sau khi khám xong căn dặn bệnh nhân phải uống thuốc, phải ăn uống và nghỉ ngơi như thế nào?( Hình minh họa 5 trang 33)...Tùy vào từng chủ đề mà tôi lựa chọn các trò chơi khác nhau để giúp phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ giao lưu với bạn được tốt hơn. Ngoài ra trong giờ học hoạt động chung, tôi tăng cường cho trẻ trả lời câu hỏi của cô, cho trẻ tập kể truyện, đóng kịch để giúp cho vốn từ của trẻ ngày càng phòng phú hơn. Kỹ năng giao tiếp với người lớn và mọi người xung quanh trẻ: Đối với người lớn cần tập cho trẻ những lời nói lễ phép , dạy trẻ nói đủ câu, không nói trống không. Để trẻ có thói quen nói đủ câu, không nói trống không thì giáo viên phải quan sát, uốn nắn trẻ thường xuyên, khi thấy trẻ nói chưa đủ câu cần sửa cho trẻ ngay. Vào các thời điểm đón trẻ, qua giờ học, giờ chơi tôi trao đổi với giáo viên trong lớp cùng kết hợp sửa cho trẻ. Với những hình thức như vậy dần dần trẻ lớp tôi đã biết thưa gửi, nói năng lễ phép với cô giáo, với người lớn và mọi người xung quanh. 3.4 Lồng ghép nội dung giáo dục dạy trẻ kỹ năng sống vào các hoạt động học Đối với trẻ mầm non, việc rèn kỹ năng sống cho trẻ không được thực hiện trên một giờ học cụ thể nào, mà chỉ lồng ghép vào các hoạt động trong ngày để dạy kỹ năng sống cho trẻ. * Hoạt động học làm quen với văn học: Xuất phát từ đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non là rất thích nghe kể chuyện, nội dung các câu chuyện thường để lại ấn tượng cho trẻ khó phai mờ. Tùy từng nội dung câu chuyện mà tôi đưa nội dung kỹ năng sống vào để dạy trẻ sao cho, phù hợp với trẻ lớp mình.( Hình minh họa 9 trang 35) Ví dụ: Qua câu chuyện “Cáo, thỏ và gà trống”, tôi dạy trẻ học tập bạn gà Trống tính mạnh dạn, tự tin. Tuy nhỏ bé nhưng Gà trống đã biết dùng trí thông minh của mình để đuổi Cáo ra khỏi nhà. Ví dụ: Câu chuyện “Tích Chu”, tôi dạy trẻ kỹ năng luôn quan tâm giúp đỡ mọi người đăc biệt là người thân trong gia đình học tập bạn Tích Chu không quản ngại khó khăn đi kiếm nước suối tiên về cho bà uống. Bên cạnh những câu chuyện có trong chương trình, tôi còn sưu tầm thêm một số bài thơ câu chuyện có nội dung dạy kỹ năng sống để đưa vào dạy trẻ. Các câu chuyện mà tôi đã sưu tầm và thiết kế đã giúp cho trẻ lớp tôi mạnh dạn, tự tin hơn và có những hiểu biết nhiều hơn về các kỹ năng sống cơ bản cần có. * Hoạt động học khám phá: Với hoạt động học này thông qua các chủ đề mà tôi giáo dục cho trẻ những kỹ năng sống cơ bản như: Chủ đề “Bản thân Thông qua hoạt động khám phá đề tài “Bé cần gì để lớn lên và khỏe mạnh” bé cần ăn đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng, cần tham gia các hoạt động chơi đùa chạy nhảy, thể dục thể thao và điều quan trọng nữa bé cần được sống trong môi trường không khí trong lành qua đó giáo dục trẻ biết cách chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho bản thân bằng cách giữ gìn đồ dùng, vệ sinh cá nhân sạch sẽ. Khi chơi xong phải biết rửa tay. Chủ đề “Gia đình” Khám phá với đề tài “Ngôi nhà của bé”, trẻ biết được ngôi nhà là nơi gia đình cùng chung sống, giáo dục trẻ biết làm gì để chỗ ở của mình sạch sẽ, gọn gàng. Còn đề tài khám phá “Đồ dùng trong gia đình” giáo dục trẻ biết sắp xếp khi lấy, cất đồ dùng ngăn nắp, biết giữ gìn đồ dùng sạch sẽ, gọn gàng, biết sử dụng đồ dùng đúng cách... Chủ đề “Nghề nghiệp” Đề tài khám phá một số nghề như nghề giáo viên, nghề bác sỹ, nghề nông trẻ biết mỗi nghề đều có công việc vất vả riêng, trẻ biết yêu quý các nghề và bảo vệ các sản phẩm của mỗi nghề. Chủ đề “Động vật” Đề tài khám phá về “Một số vật nuôi trong gia đình” giáo dục trẻ biết chăm sóc bảo vệ các con vật nuôi (Cho ăn, không đánh đuổi các con vật). Khám phá về “Động vật sống trong rừng” trẻ có những hành động không đồng tình khi biết những con vật sống hoang dã đang có nguy cơ bị săn bắn trái phép. Biết tránh và không lại gần những con vật hung dữ. Giáo dục trẻ biết được ích lợi của những con vật đó, biết được những mối hiểm họa đang chờ chúng. Khám phá “Một số con côn trùng”, trẻ nhận biết được những con côn trùng có ích và côn trùng có hại đối với con người. Chủ đề “Thực vật” Khám phá “Cây xanh và môi trường sống”. Giáo dục trẻ biết ích lợi của các loại rau, trái cây, cây xanh, cây bóng mát đối với con người, giáo dục trẻ cách chăm sóc các loại cây (tưới cây), biết ăn rau, củ, quả cung cấp nhiều vitamin. Giáo dục trẻ biết không leo trèo cây, ăn quả xong để rác đúng nơi quy định. Chủ đề “Phương tiện và luật lệ giao thông”. Đề tài “Bé đi đường an toàn” giáo dục trẻ khi đi bộ trên đường làng đi sát lề đường bên tay phải, khi đi bộ trên đường phố đi trên vỉa hè. Khi ngồi sau xe máy phải đội mũ bảo hiểm, ngồi ngay ngắn không đùa nghịch. Khi ngồi trên ô tô không được thò đầu ra ngoài, không được chạy nhảy trên xe, khi xe dừng lại mới được xuống, biết nhường chỗ cho các cụ già Chủ đề “Nước và các hiện tượng tự nhiên” Cho trẻ khám phá về nước: trẻ biết có nhiều loại nước khác nhau như nước máy, nước lọc, nước suối, nước mưa, nước ao hồ, nước biển. Trẻ biết tình trạng hiện nay nguồn nước đang bị ô nhiễm dần và cạn kiệt vì do con người đã sử dụng lãng phí từ đó giáo dục trẻ phải biết tiết kiệm nước. Rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh các con nhớ vặn vòi nước vừa đủ để rửa, tránh lãng phí. Giáo dục trẻ khi đi chơi hay đi đâu không vứt rác xuống nguồn nước, tránh làm ô nhiễm. Biết mùa hè thường mặc trang phục gì? Mùa đông thì mặc như thế nào? Khi cho trẻ khám phá về “nước” trẻ biết có nhiều loại nước khác nhau như nước máy, nước mưa, nước sông, suối, hồ, ao, nước biển trẻ biết tình trạng ô nhiễm hiện nay. Khi đi tắm biển phải mặc áo phao và biết tự bảo vệ mìnH. Chủ đề “Quê hương, thủ đô, Bác Hồ” Đề tài khám phá “Bác Hồ với các cháu thiếu nhi” giáo dục trẻ biết tự hào về vị lãnh tụ của đất nước, biết yêu quý đất nước mình * Hoạt động học tạo hình: Qua các HĐH tạo hình giáo dục trẻ biết giữ gìn sách vở sạch đẹp, không làm gấp mép vở, không vẽ bậy ra ghế ra bàn, giáo dục trẻ biết yêu quý, trân trọng sản phẩm của mình, của bạn, mong muốn tạo ra những sản phẩm đẹp để tặng cô, tặng ông, bà, bố, mẹ * Hoạt động học âm nhạc: Ở trường mầm non âm nhạc là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, phát triển lời nói, quan hệ giao tiếp, trao đổi tình cảm đối với trẻ, âm nhạc là thế giới kỳ diệu đầy cảm xúc. Thực tế cho ta thấy rằng: Trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo rất nhạy cảm đối với âm nhạc. Giáo dục âm nhạc là phương tiện nâng cao khả năng trí tuệ, giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, củng cố kiến thức trẻ qua học tập, vui chơi trong cuộc sống. Quá trình trẻ tiếp xúc và hoạt động âm nhạc như nghe cô hát, trẻ tự ca hát, nhảy múa, chơi trò chơi âm nhạc... sẽ hình thành ở trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển toàn diện, hài hoà, đó là sự phát triển về thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ và thể lực, trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tổ chức hoạt động giáo dục âm nhạc ở trường mầm non không chỉ mang lại cho trẻ những cảm xúc âm nhạc mà thông qua đó còn giúp trẻ phát triển rất nhiều kỹ năng sống tốt đẹp như: kỹ năng tạo niềm vui, kỹ năng mạnh dạn tự tin Ví dụ: Khi dạy trẻ hát, múa, biểu diễn tổng kết chủ đề, trẻ được hợp tác với bạn luyện tập các tiết mục văn nghệ, được thể hiện vai người dẫn chương trình... giúp trẻ biết quan tâm, chia sẻ và hợp tác với bạn ðể luyện tập ðýợc tốt. * Hoạt động phát triển thể chất: Thông qua hoạt động thể chất cô nhắc trẻ thường xuyên tập thể dục để cho cơ thể lớn lên và khỏe mạnh. Khi chơi các trò chơi vận động không nên tranh nhau, phải biết nhường nhịn nhau, khi chơi phải biết phối hợp với bạn để tạo ra tính đoàn kết. 3.5 Dạy kỹ năng sống cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi 3.5.1 Hoạt động đón trẻ: Vào buổi sáng, giáo viên đến lớp trước 15 phút, công việc đầu tiên là mở cửa thông thoáng phòng học, sau đó chuẩn bị đón trẻ.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_song_cho.doc

